Cầu trùng là một bệnh phổ biến trên gia súc, gia cầm, đặc biệt bệnh xảy ra trên heo con gây thiệt hại kinh tế khá nghiêm trọng. Chẩn đoán chính xác giúp người nuôi chủ động được quy trình kiểm soát bệnh ngay từ đầu.

Tác nhân gây bệnh
Bệnh cầu trùng do nguyên sinh động vật Isospora suis, thuộc nhóm Protozoa nội bào gây ra. Cầu trùng Isospora suis có đường kính 20 micromet, được gọi là noãn nang. Bệnh thường xảy ra ở lơn con dưới 3 tháng tuổi, nhưng phổ biến nhất ở heo 5 - 21 ngày tuổi. Chúng ký sinh trong cơ thể heo và phát triển ở niêm mạc ruột non tạo thành những kén hợp tử nhỏ. Sau đó các kén này được thải ra môi trường ngoài, khi gặp điều kiện thích hợp chúng sẽ phát triển thành bào tử trùng tạo nên các kén bào tử. Khi heo ăn phải các kén bào tử này chúng sẽ được phóng thích và đi đến các tế bào ruột non sinh sản và phá hủy ruột của heo trong vòng 12 - 24h ở nhiệt độ 20 - 350C, làm cho heo bị tiêu chảy. Isospora suis là một trong những nguyên nhân gây nên bệnh tiêu chảy ở heo con. Bệnh xảy ra phổ biến trên khắp thế giới, tại Việt Nam bệnh có tỷ lệ nhiễm là 20 - 50% tại các trại chăn nuôi, nơi nuôi heo với mật độ cao và điều kiện vệ sinh kém.
Triệu chứng
Cầu trùng thường gây bệnh cho heo 5 - 21 ngày tuổi. Heo bệnh thường hay nằm, uể oải, kém ăn.  Biểu hiện chính của heo bệnh thường là tiêu chảy, trong giai đoạn đầu heo bị tiêu chảy phân màu trắng sữa, rồi chuyển sang vàng, xám sền sệt, xanh lá cây, thậm chí chảy cả máu, hay chuyển sang lỏng hơn tùy thuộc vào mầm bệnh kế phát và mức độ trầm trọng của bệnh. Trên thân heo con dính đầy phân lỏng, ẩm ướt và có mùi khó chịu. Khi heo bị tổn thương đường ruột, chúng sẽ mất khả năng tiêu hóa làm cho heo bị nôn ra sữa. Từ đó, làm cho heo bị mất nước, lông xù. Tỷ lệ chết của bệnh cầu trùng thường thấp, nhưng trong trường hợp cấp tính thì tỷ lệ chết có thể lên cao. Bệnh do Isospora suis tạo điều kiện cho các vi trùng, virus xâm nhập như: Rotavirus, E.coli… phát triển gây nên bệnh trầm trọng và tỷ lệ chết cao hơn lên tới 20 - 30%. Bệnh cầu trùng phá hủy nhung mao niêm mạc ruột của heo con, làm chúng hấp thu dinh dưỡng kém, năng suất giảm 20% cả đàn khi xuất chuồng. Điều trị bằng kháng sinh không mang lại hiệu quả.
Bệnh tích
Khi tiến hành mổ khám, bệnh tích rõ nhất của bệnh thể hiện ở ruột non. Khi heo mắc bệnh ở mức độ nhẹ, các kén bào tử chưa gây nhiều tổn thương cho cơ thể, ruột có biểu hiện sưng phồng và hơi cương lên; đôi khi còn thấy xuất hiện máu đông tại niêm mạc ruột. Trong trường hợp này, cơ thể của heo con có khả năng tiêu diệt mầm bệnh nhờ khả năng miễn dịch tự nhiên. Nếu heo mắc bệnh nặng, bị nhiễm trùng một lượng lớn kén bào tử, ruột sẽ bị viêm tràn lan kèm theo fibrin và hoại tử ruột. Đối với những con heo nhiễm bệnh nặng nhưng có khả năng sống sót, khi mô khám thấy phần ruột và niêm mạc ruột bị teo lại, tế bào niêm mạc ruột bị hư hại, làm cho heo chậm lớn, còi cọc.
Phòng bệnh
Vệ sinh chuồng trại là một yếu tố quan trọng trong toàn bộ quá trình nuôi và kiểm soát bệnh cầu trùng. Để kiểm soát bệnh hiệu quả phải áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ như dọn sạch phân, cọ rửa sạch sẽ chuồng trại hàng ngày; không cho heo con tiếp xúc với phân và các chất độn chuồng để tránh nguy cơ tiếp xúc với mầm bệnh; không để nền chuồng ẩm ướt; khử trùng, làm sạch các mầm bệnh tự do trong trại bằng cách định kỳ thực hiện tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi bằng các loại thuốc sát trùng; nguồn nước, nước uống phải cung cấp đủ, sạch, không bị nhiễm bẩn và đạt chuẩn theo quy định tiêu chuẩn; Mật độ nuôi cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và sức đề kháng của vật nuôi. Khi nuôi với mật độ cao, diện tích quá chật hẹp sẽ làm chuồng trại kém thông thoáng, dễ phát sinh dịch bệnh, do đó mật độ nuôi phải thỏa quy định mật độ, diện tích cho vật nuôi tối thiểu để đảm bảo sự sinh trưởng của heo đạt hiệu quả tối ưu; có biện pháp xử lý chất thải như xây Biogas,… để tránh gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi và cộng đồng; đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý và bổ sung các loại men vi sinh, các chất điện giải giúp tăng sức đề kháng ở heo nuôi; quản lý, nuôi dưỡng thích hợp sẽ làm tăng sức chống chịu đề kháng, tránh bớt stress và giảm khả năng lan truyền dịch bệnh, giúp ích cho công tác vệ sinh, bảo vệ sức khỏe đàn heo từ đó sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi.
chuồng trại sạch sẽ giúp hạn chế bệnh cho lợn - chăn nuôi
Chuồng trại sạch sẽ giúp hạn chế  bệnh cầu trùng ở heo con          
Trị bệnh
Theo khuyến cáo của các nhà nghiên cứu, thuốc đặc hiệu để điều trị bệnh cầu trùng ở heo con hiện nay là Toltrazuril với khả năng có thể tiêu diệt tất cả các giai đoạn của mầm bệnh trong đường ruột. Để phòng bệnh, tiến hành cho heo con 3 - 5 ngày tuổi uống Toltrazuril với lượng 0,5 ml/con, giúp heo con an toàn đối với bệnh cầu trùng trong suốt thời gian nuôi. Để trị bệnh, Toltrazuril thường được sử dụng với liều 1 ml/2,5 kg thể trọng, dùng một lần duy nhất bằng cách phun vào miệng của heo con. Đồng thời, cần kết hợp với các thuốc bổ trợ khác để giúp heo có thể nhanh chóng phục hồi như Vitamin K, B.Complex, điện giải, men tiêu hóa… và cung cấp đủ lượng nước cho heo. Để việc trị bệnh cho heo đạt kết quả tối ưu nhất, người nuôi cần tập trung vào việc phòng bệnh tổng hợp đồng bộ cho toàn bộ heo nuôi và toàn thể trang trại. Thực hiện các phương pháp an toàn sinh học, tiêm phòng vaccine cho heo con cũng là yếu tố đảm bảo cho việc phòng, trị bệnh cầu trùng mang lại hiệu quả.
>> Xác định rõ triệu chứng và bệnh tích do Isospora suis gây ra là giải pháp tốt nhất để chẩn đoán chính xác bệnh và các phương pháp điều trị thích hợp. Từ đó, hạn chế được những thiệt hại có thể xảy ra trong trại chăn nuôi heo.
 
ĐTK tổng hợp

Bệnh cầu trùng ở heo con

Cầu trùng là một bệnh phổ biến trên gia súc, gia cầm, đặc biệt bệnh xảy ra trên heo con gây thiệt hại kinh tế khá nghiêm trọng. Chẩn đoán chính xác giúp người nuôi chủ động được quy trình kiểm soát bệnh ngay từ đầu.

Tác nhân gây bệnh
Bệnh cầu trùng do nguyên sinh động vật Isospora suis, thuộc nhóm Protozoa nội bào gây ra. Cầu trùng Isospora suis có đường kính 20 micromet, được gọi là noãn nang. Bệnh thường xảy ra ở lơn con dưới 3 tháng tuổi, nhưng phổ biến nhất ở heo 5 - 21 ngày tuổi. Chúng ký sinh trong cơ thể heo và phát triển ở niêm mạc ruột non tạo thành những kén hợp tử nhỏ. Sau đó các kén này được thải ra môi trường ngoài, khi gặp điều kiện thích hợp chúng sẽ phát triển thành bào tử trùng tạo nên các kén bào tử. Khi heo ăn phải các kén bào tử này chúng sẽ được phóng thích và đi đến các tế bào ruột non sinh sản và phá hủy ruột của heo trong vòng 12 - 24h ở nhiệt độ 20 - 350C, làm cho heo bị tiêu chảy. Isospora suis là một trong những nguyên nhân gây nên bệnh tiêu chảy ở heo con. Bệnh xảy ra phổ biến trên khắp thế giới, tại Việt Nam bệnh có tỷ lệ nhiễm là 20 - 50% tại các trại chăn nuôi, nơi nuôi heo với mật độ cao và điều kiện vệ sinh kém.
Triệu chứng
Cầu trùng thường gây bệnh cho heo 5 - 21 ngày tuổi. Heo bệnh thường hay nằm, uể oải, kém ăn.  Biểu hiện chính của heo bệnh thường là tiêu chảy, trong giai đoạn đầu heo bị tiêu chảy phân màu trắng sữa, rồi chuyển sang vàng, xám sền sệt, xanh lá cây, thậm chí chảy cả máu, hay chuyển sang lỏng hơn tùy thuộc vào mầm bệnh kế phát và mức độ trầm trọng của bệnh. Trên thân heo con dính đầy phân lỏng, ẩm ướt và có mùi khó chịu. Khi heo bị tổn thương đường ruột, chúng sẽ mất khả năng tiêu hóa làm cho heo bị nôn ra sữa. Từ đó, làm cho heo bị mất nước, lông xù. Tỷ lệ chết của bệnh cầu trùng thường thấp, nhưng trong trường hợp cấp tính thì tỷ lệ chết có thể lên cao. Bệnh do Isospora suis tạo điều kiện cho các vi trùng, virus xâm nhập như: Rotavirus, E.coli… phát triển gây nên bệnh trầm trọng và tỷ lệ chết cao hơn lên tới 20 - 30%. Bệnh cầu trùng phá hủy nhung mao niêm mạc ruột của heo con, làm chúng hấp thu dinh dưỡng kém, năng suất giảm 20% cả đàn khi xuất chuồng. Điều trị bằng kháng sinh không mang lại hiệu quả.
Bệnh tích
Khi tiến hành mổ khám, bệnh tích rõ nhất của bệnh thể hiện ở ruột non. Khi heo mắc bệnh ở mức độ nhẹ, các kén bào tử chưa gây nhiều tổn thương cho cơ thể, ruột có biểu hiện sưng phồng và hơi cương lên; đôi khi còn thấy xuất hiện máu đông tại niêm mạc ruột. Trong trường hợp này, cơ thể của heo con có khả năng tiêu diệt mầm bệnh nhờ khả năng miễn dịch tự nhiên. Nếu heo mắc bệnh nặng, bị nhiễm trùng một lượng lớn kén bào tử, ruột sẽ bị viêm tràn lan kèm theo fibrin và hoại tử ruột. Đối với những con heo nhiễm bệnh nặng nhưng có khả năng sống sót, khi mô khám thấy phần ruột và niêm mạc ruột bị teo lại, tế bào niêm mạc ruột bị hư hại, làm cho heo chậm lớn, còi cọc.
Phòng bệnh
Vệ sinh chuồng trại là một yếu tố quan trọng trong toàn bộ quá trình nuôi và kiểm soát bệnh cầu trùng. Để kiểm soát bệnh hiệu quả phải áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ như dọn sạch phân, cọ rửa sạch sẽ chuồng trại hàng ngày; không cho heo con tiếp xúc với phân và các chất độn chuồng để tránh nguy cơ tiếp xúc với mầm bệnh; không để nền chuồng ẩm ướt; khử trùng, làm sạch các mầm bệnh tự do trong trại bằng cách định kỳ thực hiện tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi bằng các loại thuốc sát trùng; nguồn nước, nước uống phải cung cấp đủ, sạch, không bị nhiễm bẩn và đạt chuẩn theo quy định tiêu chuẩn; Mật độ nuôi cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và sức đề kháng của vật nuôi. Khi nuôi với mật độ cao, diện tích quá chật hẹp sẽ làm chuồng trại kém thông thoáng, dễ phát sinh dịch bệnh, do đó mật độ nuôi phải thỏa quy định mật độ, diện tích cho vật nuôi tối thiểu để đảm bảo sự sinh trưởng của heo đạt hiệu quả tối ưu; có biện pháp xử lý chất thải như xây Biogas,… để tránh gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi và cộng đồng; đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý và bổ sung các loại men vi sinh, các chất điện giải giúp tăng sức đề kháng ở heo nuôi; quản lý, nuôi dưỡng thích hợp sẽ làm tăng sức chống chịu đề kháng, tránh bớt stress và giảm khả năng lan truyền dịch bệnh, giúp ích cho công tác vệ sinh, bảo vệ sức khỏe đàn heo từ đó sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi.
chuồng trại sạch sẽ giúp hạn chế bệnh cho lợn - chăn nuôi
Chuồng trại sạch sẽ giúp hạn chế  bệnh cầu trùng ở heo con          
Trị bệnh
Theo khuyến cáo của các nhà nghiên cứu, thuốc đặc hiệu để điều trị bệnh cầu trùng ở heo con hiện nay là Toltrazuril với khả năng có thể tiêu diệt tất cả các giai đoạn của mầm bệnh trong đường ruột. Để phòng bệnh, tiến hành cho heo con 3 - 5 ngày tuổi uống Toltrazuril với lượng 0,5 ml/con, giúp heo con an toàn đối với bệnh cầu trùng trong suốt thời gian nuôi. Để trị bệnh, Toltrazuril thường được sử dụng với liều 1 ml/2,5 kg thể trọng, dùng một lần duy nhất bằng cách phun vào miệng của heo con. Đồng thời, cần kết hợp với các thuốc bổ trợ khác để giúp heo có thể nhanh chóng phục hồi như Vitamin K, B.Complex, điện giải, men tiêu hóa… và cung cấp đủ lượng nước cho heo. Để việc trị bệnh cho heo đạt kết quả tối ưu nhất, người nuôi cần tập trung vào việc phòng bệnh tổng hợp đồng bộ cho toàn bộ heo nuôi và toàn thể trang trại. Thực hiện các phương pháp an toàn sinh học, tiêm phòng vaccine cho heo con cũng là yếu tố đảm bảo cho việc phòng, trị bệnh cầu trùng mang lại hiệu quả.
>> Xác định rõ triệu chứng và bệnh tích do Isospora suis gây ra là giải pháp tốt nhất để chẩn đoán chính xác bệnh và các phương pháp điều trị thích hợp. Từ đó, hạn chế được những thiệt hại có thể xảy ra trong trại chăn nuôi heo.
 
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Sản lượng thịt toàn cầu năm 2016 ước đạt 320,7 triệu tấn hơi, không đổi so năm ngoái - theo báo cáo mới nhất về triển vọng ngành thực phẩm của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hiệp quốc (FAO).

Châu Á dẫn đầu
Châu Á hiện đang là khu vực dẫn đầu hoạt động chăn nuôi. Còn Bắc Mỹ và Nam Mỹ cũng đang cạnh tranh để giành ngôi vị thứ 2. Thương mại ngành thịt năm nay kỳ vọng phục hồi 2,8% và đạt 30,6 triệu tấn, tương đương năm 2014. Riêng thương mại ngành thịt gia cầm kỳ vọng tăng gần 3,5 % lên 12,7 triệu tấn.
Theo số liệu của FAO, thịt gia cầm chiếm 41,5% tổng giao dịch thương mại, và sụt giảm nhẹ so mức 41,8% năm 2014. Nguyên nhân do sản lượng gia cầm của Trung Quốc giảm 5% khi tiêu thụ nội địa giảm và nguồn gà giống bị thu hẹp kể từ khi nước này cấm nhập khẩu gia cầm từ những quốc gia có dịch cúm, trong đó có Mỹ - một trong những nguồn cung giống gia cầm lớn nhất cho Trung Quốc. Tuy nhiên, sản lượng thịt của Trung Quốc vẫn chiếm 46% toàn châu Á. Đứng sau Trung Quốc về tổng sản lượng, nhưng ngành gia cầm của Ấn Độ lại có bước đột phá mạnh mẽ và tốc độ tăng trưởng nhanh nhất; sản lượng năm nay ước đạt gần 2,9 triệu tấn, tăng 7,7% so năm ngoái và 17% so năm 2014.
sản lượng thịt trên thế giới - chăn nuôi
Trong khi đó, ngành gia cầm tại Mỹ và Brazil lại có mức tăng trưởng khá ấn tượng do nhu cầu tiêu thụ tăng cao và giá thức ăn chăn nuôi hạ. Dù Bắc Mỹ chịu thiệt hại do bùng nổ dịch cúm gia cầm độc lực cao (HPAI) nhưng ngành này vẫn tăng trưởng 2,6% và đạt sản lượng 21,8 triệu tấn. Còn ở Nam Mỹ, Brazil là nước chiếm 2/3 tổng sản lượng gia cầm, tăng trưởng 3% trong năm nay, đạt 14,2 triệu tấn. Argentina ghi nhận mức tăng trưởng gần 6% với sản lượng đầu ra hàng năm đạt gần 2 triệu tấn.
Mexico chiếm 70% tổng sản lượng gia cầm tại Trung Mỹ và năm nay sản lượng của nước này đã tăng 3% lên mức 4,7 triệu tấn. Châu Âu ghi nhận mức tăng trưởng ngành gia cầm 1,7%, tương đương gần 14 triệu tấn. Tại châu Âu, Nga là thị trường có sức tăng trưởng ấn tượng 4%, đạt 4,3 triệu tấn.
Giao dịch tăng
Giao dịch thương mại gia cầm dự kiến tăng 3,5% lên 12,7 triệu tấn. Từ đợt cao điểm vào giữa 2014, giá nhích dần và tới tháng 5/2016,  giá đã tăng 16% so hồi đầu năm. Theo FAO, giá quốc tế đang duy trì ở mức vừa phải, cùng với nhu cầu tiêu thụ dâng cao, có tác dụng kích thích các thị trường như Ả Rập Saudi, Nam Phi, Nhật Bản, Việt Nam, Cu Ba và UAE tích cực nhập khẩu.
Khu vực dẫn đầu xuất khẩu gia cầm lại là Nam Mỹ với tổng kim ngạch đạt gần 5 triệu tấn trong năm nay, trong đó 90% các lô hàng có xuất xứ Brazil. Lượng gia cầm xuất khẩu của nước này tăng ngoạn mục và có thể đạt gần 4,6 triệu tấn trong năm nay, tăng 0,2 tấn so năm 2014 từ khi Brazil thế chỗ Mỹ để trở thành nước xuất khẩu gia cầm hàng đầu thế giới. Xuất khẩu từ Bắc Mỹ phản ánh toàn bộ giao dịch từ Mỹ. Năm 2014, Mỹ đã xuất khẩu được 4,2 triệu tấn thịt gia cầm, nhưng sang năm 2015 giảm 16% do dịch bệnh cúm gia cầm bùng phát làm nhiều thị trường cấm nhập khẩu gà Mỹ.
Tổng lượng hàng xuất khẩu từ châu Á không có nhiều biến động trong những năm gần đây khi sản lượng trung bình dưới 2 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, sự phục hồi của ngành gia cầm Thái Lan, chủ yếu xuất khẩu sang Nhật Bản sẽ còn tiếp diễn và sản lượng có khả năng vượt 900.000 tấn so mức 770.000 tấn năm 2014. Trong khi đó, tốc độ xuất khẩu gia cầm của châu Âu lại khá chậm chạp và chỉ đạt 1,8 triệu tấn/năm với lượng hàng bán ra trong phạm vi EU đã lên tới 1,4 triệu tấn. Còn gia cầm xuất khẩu của châu Phi lại khá mờ nhạt, chủ yếu là từ Nam Phi với khối lượng nhỏ gần 80.000 tấn.
>> Trong khi mức tăng trưởng dự báo của ngành thịt khoảng 0,3% thì sản lượng đầu ra của gia cầm được kỳ vọng mức tăng trưởng trên 1% và đạt con số kỷ lục 116,2 triệu tấn. Ngành thịt heo lại đối lập khi được dự báo giảm sản lượng 0,7% còn 116,4 triệu tấn.
 
ĐTK tổng hợp

Cú hích của thị trường thịt toàn cầu

Sản lượng thịt toàn cầu năm 2016 ước đạt 320,7 triệu tấn hơi, không đổi so năm ngoái - theo báo cáo mới nhất về triển vọng ngành thực phẩm của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hiệp quốc (FAO).

Châu Á dẫn đầu
Châu Á hiện đang là khu vực dẫn đầu hoạt động chăn nuôi. Còn Bắc Mỹ và Nam Mỹ cũng đang cạnh tranh để giành ngôi vị thứ 2. Thương mại ngành thịt năm nay kỳ vọng phục hồi 2,8% và đạt 30,6 triệu tấn, tương đương năm 2014. Riêng thương mại ngành thịt gia cầm kỳ vọng tăng gần 3,5 % lên 12,7 triệu tấn.
Theo số liệu của FAO, thịt gia cầm chiếm 41,5% tổng giao dịch thương mại, và sụt giảm nhẹ so mức 41,8% năm 2014. Nguyên nhân do sản lượng gia cầm của Trung Quốc giảm 5% khi tiêu thụ nội địa giảm và nguồn gà giống bị thu hẹp kể từ khi nước này cấm nhập khẩu gia cầm từ những quốc gia có dịch cúm, trong đó có Mỹ - một trong những nguồn cung giống gia cầm lớn nhất cho Trung Quốc. Tuy nhiên, sản lượng thịt của Trung Quốc vẫn chiếm 46% toàn châu Á. Đứng sau Trung Quốc về tổng sản lượng, nhưng ngành gia cầm của Ấn Độ lại có bước đột phá mạnh mẽ và tốc độ tăng trưởng nhanh nhất; sản lượng năm nay ước đạt gần 2,9 triệu tấn, tăng 7,7% so năm ngoái và 17% so năm 2014.
sản lượng thịt trên thế giới - chăn nuôi
Trong khi đó, ngành gia cầm tại Mỹ và Brazil lại có mức tăng trưởng khá ấn tượng do nhu cầu tiêu thụ tăng cao và giá thức ăn chăn nuôi hạ. Dù Bắc Mỹ chịu thiệt hại do bùng nổ dịch cúm gia cầm độc lực cao (HPAI) nhưng ngành này vẫn tăng trưởng 2,6% và đạt sản lượng 21,8 triệu tấn. Còn ở Nam Mỹ, Brazil là nước chiếm 2/3 tổng sản lượng gia cầm, tăng trưởng 3% trong năm nay, đạt 14,2 triệu tấn. Argentina ghi nhận mức tăng trưởng gần 6% với sản lượng đầu ra hàng năm đạt gần 2 triệu tấn.
Mexico chiếm 70% tổng sản lượng gia cầm tại Trung Mỹ và năm nay sản lượng của nước này đã tăng 3% lên mức 4,7 triệu tấn. Châu Âu ghi nhận mức tăng trưởng ngành gia cầm 1,7%, tương đương gần 14 triệu tấn. Tại châu Âu, Nga là thị trường có sức tăng trưởng ấn tượng 4%, đạt 4,3 triệu tấn.
Giao dịch tăng
Giao dịch thương mại gia cầm dự kiến tăng 3,5% lên 12,7 triệu tấn. Từ đợt cao điểm vào giữa 2014, giá nhích dần và tới tháng 5/2016,  giá đã tăng 16% so hồi đầu năm. Theo FAO, giá quốc tế đang duy trì ở mức vừa phải, cùng với nhu cầu tiêu thụ dâng cao, có tác dụng kích thích các thị trường như Ả Rập Saudi, Nam Phi, Nhật Bản, Việt Nam, Cu Ba và UAE tích cực nhập khẩu.
Khu vực dẫn đầu xuất khẩu gia cầm lại là Nam Mỹ với tổng kim ngạch đạt gần 5 triệu tấn trong năm nay, trong đó 90% các lô hàng có xuất xứ Brazil. Lượng gia cầm xuất khẩu của nước này tăng ngoạn mục và có thể đạt gần 4,6 triệu tấn trong năm nay, tăng 0,2 tấn so năm 2014 từ khi Brazil thế chỗ Mỹ để trở thành nước xuất khẩu gia cầm hàng đầu thế giới. Xuất khẩu từ Bắc Mỹ phản ánh toàn bộ giao dịch từ Mỹ. Năm 2014, Mỹ đã xuất khẩu được 4,2 triệu tấn thịt gia cầm, nhưng sang năm 2015 giảm 16% do dịch bệnh cúm gia cầm bùng phát làm nhiều thị trường cấm nhập khẩu gà Mỹ.
Tổng lượng hàng xuất khẩu từ châu Á không có nhiều biến động trong những năm gần đây khi sản lượng trung bình dưới 2 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, sự phục hồi của ngành gia cầm Thái Lan, chủ yếu xuất khẩu sang Nhật Bản sẽ còn tiếp diễn và sản lượng có khả năng vượt 900.000 tấn so mức 770.000 tấn năm 2014. Trong khi đó, tốc độ xuất khẩu gia cầm của châu Âu lại khá chậm chạp và chỉ đạt 1,8 triệu tấn/năm với lượng hàng bán ra trong phạm vi EU đã lên tới 1,4 triệu tấn. Còn gia cầm xuất khẩu của châu Phi lại khá mờ nhạt, chủ yếu là từ Nam Phi với khối lượng nhỏ gần 80.000 tấn.
>> Trong khi mức tăng trưởng dự báo của ngành thịt khoảng 0,3% thì sản lượng đầu ra của gia cầm được kỳ vọng mức tăng trưởng trên 1% và đạt con số kỷ lục 116,2 triệu tấn. Ngành thịt heo lại đối lập khi được dự báo giảm sản lượng 0,7% còn 116,4 triệu tấn.
 
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Trong 8 tháng qua, Đồng Nai đã xuất khẩu gần 237 ngàn tấn cà phê, tăng 40% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, 2 tháng trở lại đây các doanh nghiệp tăng tốc trong xuất khẩu cà phê do giá thế giới tăng.

Đồng Nai đang được coi là “thủ phủ” tập trung các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cà phê. Thông tin từ Cục Thống kê Đồng Nai, giá cà phê nhân thô xuất khẩu trong 8 tháng qua bình quân khoảng 40 triệu đồng/tấn. Tuy nhiên, gần đây giá cà phê trên thế giới có xu hướng tăng nên các doanh nghiệp đều đẩy mạnh xuất khẩu. Theo đó, giá cà phê tại thị trường trong nước cũng tăng thêm gần 10 ngàn đồng/kg so với dịp đầu năm.


* Giá tăng trở lại
Hiện nay, các doanh nghiệp ở Đồng Nai xuất khẩu cà phê sang hơn 30 quốc gia khác nhau nên không còn quá lệ thuộc vào một vài thị trường. Từ giữa quý III-2016, cà phê trên thế giới tăng cao kéo theo giá tại thị trường nội địa cũng tăng theo. Nếu đầu năm giá cà phê các nhà vườn bán ra chỉ dao động ở mức 30-31 ngàn đồng/kg, thì gần 1 tháng nay giá cà phê vượt ngưỡng 40 ngàn đồng/kg.

Ông Trần Văn Trung, chủ đại lý chuyên mua cà phê tại huyện Cẩm Mỹ, cho hay: “Trong 3 tháng đầu năm, giá cà phê cao nhất cũng chỉ được 32 ngàn đồng/kg, nhưng sau đó giá nhích dần. Từ giữa tháng 8-2016, đại lý mua cà phê vào với giá 40-41 ngàn đồng/kg, song ít nhà vườn còn cà phê để bán do đã hết vụ thu hoạch từ lâu”. Giá cà phê 2-3 năm trở lại đây hay có những biến động lớn nên các doanh nghiệp, đại lý không dám “ôm” hàng đợi giá tăng. Đại diện Công ty cổ phần Intimex Xuân Lộc (huyện Xuân Lộc) cho biết: “So với dịp đầu năm, cà phê nhân thô hiện đã tăng gần 10 ngàn đồng/kg và thị trường khá hút hàng vì các doanh nghiệp đẩy mạnh mua vào và xuất khẩu. Năm trước, đến giữa tháng 9 công ty mua được khoảng 30 ngàn tấn cà phê, thì năm nay tăng thêm được 10 ngàn tấn”.
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn của Đồng Nai, như: Tổng công ty Tín Nghĩa, Công ty TNHH Minh Huy (TX.Long Khánh), Công ty TNHH Armajaro ở Khu công nghiệp Tam Phước (TP.Biên Hòa)... đều cho hay, xuất khẩu cà phê từ đầu năm đến nay tăng từ 30 - 60% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý I-2016, giá xuất khẩu cà phê dao động từ 1.400 - 1.500 USD/tấn, hiện đã tăng lên trên 1.900 USD/tấn.

* “Thủ phủ” chế biến, sơ chế cà phê
Khoảng 3 năm trở lại đây, nhiều doanh nghiệp đã tập trung về Đồng Nai thuê đất làm kho, nhà xưởng để sơ chế, chế biến cà phê để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Do đó, địa bàn tỉnh trở thành “thủ phủ” tập kết cà phê từ Tây Nguyên và các tỉnh lân cận. Tổng sản lượng cà phê sản xuất trên địa bàn tỉnh chỉ đạt được hơn 30 ngàn tấn, song lượng xuất khẩu lên đến gần 237 ngàn tấn. Như vậy, trên 200 ngàn tấn cà phê là do các doanh nghiệp mua từ các tỉnh khác đưa về tỉnh sơ chế, xuất khẩu.

Đại diện Tổng công ty Tín Nghĩa chia sẻ: “Sản lượng cà phê của Đồng Nai rất ít, doanh nghiệp phải mua hàng từ các tỉnh Tây Nguyên đưa về sơ chế, đóng gói và xuất khẩu. Cà phê của công ty xuất khẩu được sang nhiều nước trên thế giới. Năm nay, xuất khẩu cà phê thương đối thuận lợi, các doanh nghiệp mua vào bao nhiêu đều xuất khẩu luôn chứ không giữ hàng lại”. Theo một số doanh nghiệp, xuất khẩu cà phê năm nay tăng cao còn do lượng cà phê năm trước tồn lại chưa xuất khẩu được, năm nay các doanh nghiệp đồng loạt bán ra. Riêng trong tháng 8-2016, xuất khẩu cà phê của Đồng Nai đạt trên 31 ngàn tấn, tăng gần 3 ngàn tấn so với tháng 7. Cà phê là một trong 6 loại nông sản của tỉnh có sản lượng và kim ngạch xuất khẩu lớn nhất với gần 401 triệu USD. Đây cũng là loại nông sản có xuất siêu mà không nhập siêu.

Xuất khẩu cà phê của Đồng Nai hiện chiếm gần 20% tổng sản lượng xuất khẩu cà phê của cả nước. Thông tin từ Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn, xuất khẩu cà phê cả nước trong 8 tháng của năm đạt 1,27 triệu tấn với giá trị 2,25 tỷ USD, tăng khoảng 40% về lượng. Trong đó, xuất khẩu sang một số thị trường tăng mạnh là Philippines, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản. Dự báo của các chuyên gia kinh tế, giá cà phê từ nay đến hết năm 2016 tiếp tục còn biến động. Có khả năng giá sẽ giữ mức xấp xỉ 40 triệu đồng/tấn đến đầu vụ thu hoạch mới vào khoảng tháng 10, sau đó nguồn cung dồi dào nên giá cà phê có thể sẽ giảm.
Tại Đồng Nai, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư chế biến cà phê nhân thô thành các sản phẩm cà phê khá đa dạng để tiêu thụ tại thị trường trong nước, xuất khẩu. Việc chế biến sâu cà phê thành sản phẩm, nâng giá trị gia tăng cho cà phê.

 
ĐTK tổng hợp

Đồng Nai: Xuất khẩu cà phê tăng tốc

Trong 8 tháng qua, Đồng Nai đã xuất khẩu gần 237 ngàn tấn cà phê, tăng 40% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, 2 tháng trở lại đây các doanh nghiệp tăng tốc trong xuất khẩu cà phê do giá thế giới tăng.

Đồng Nai đang được coi là “thủ phủ” tập trung các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cà phê. Thông tin từ Cục Thống kê Đồng Nai, giá cà phê nhân thô xuất khẩu trong 8 tháng qua bình quân khoảng 40 triệu đồng/tấn. Tuy nhiên, gần đây giá cà phê trên thế giới có xu hướng tăng nên các doanh nghiệp đều đẩy mạnh xuất khẩu. Theo đó, giá cà phê tại thị trường trong nước cũng tăng thêm gần 10 ngàn đồng/kg so với dịp đầu năm.


* Giá tăng trở lại
Hiện nay, các doanh nghiệp ở Đồng Nai xuất khẩu cà phê sang hơn 30 quốc gia khác nhau nên không còn quá lệ thuộc vào một vài thị trường. Từ giữa quý III-2016, cà phê trên thế giới tăng cao kéo theo giá tại thị trường nội địa cũng tăng theo. Nếu đầu năm giá cà phê các nhà vườn bán ra chỉ dao động ở mức 30-31 ngàn đồng/kg, thì gần 1 tháng nay giá cà phê vượt ngưỡng 40 ngàn đồng/kg.

Ông Trần Văn Trung, chủ đại lý chuyên mua cà phê tại huyện Cẩm Mỹ, cho hay: “Trong 3 tháng đầu năm, giá cà phê cao nhất cũng chỉ được 32 ngàn đồng/kg, nhưng sau đó giá nhích dần. Từ giữa tháng 8-2016, đại lý mua cà phê vào với giá 40-41 ngàn đồng/kg, song ít nhà vườn còn cà phê để bán do đã hết vụ thu hoạch từ lâu”. Giá cà phê 2-3 năm trở lại đây hay có những biến động lớn nên các doanh nghiệp, đại lý không dám “ôm” hàng đợi giá tăng. Đại diện Công ty cổ phần Intimex Xuân Lộc (huyện Xuân Lộc) cho biết: “So với dịp đầu năm, cà phê nhân thô hiện đã tăng gần 10 ngàn đồng/kg và thị trường khá hút hàng vì các doanh nghiệp đẩy mạnh mua vào và xuất khẩu. Năm trước, đến giữa tháng 9 công ty mua được khoảng 30 ngàn tấn cà phê, thì năm nay tăng thêm được 10 ngàn tấn”.
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn của Đồng Nai, như: Tổng công ty Tín Nghĩa, Công ty TNHH Minh Huy (TX.Long Khánh), Công ty TNHH Armajaro ở Khu công nghiệp Tam Phước (TP.Biên Hòa)... đều cho hay, xuất khẩu cà phê từ đầu năm đến nay tăng từ 30 - 60% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý I-2016, giá xuất khẩu cà phê dao động từ 1.400 - 1.500 USD/tấn, hiện đã tăng lên trên 1.900 USD/tấn.

* “Thủ phủ” chế biến, sơ chế cà phê
Khoảng 3 năm trở lại đây, nhiều doanh nghiệp đã tập trung về Đồng Nai thuê đất làm kho, nhà xưởng để sơ chế, chế biến cà phê để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Do đó, địa bàn tỉnh trở thành “thủ phủ” tập kết cà phê từ Tây Nguyên và các tỉnh lân cận. Tổng sản lượng cà phê sản xuất trên địa bàn tỉnh chỉ đạt được hơn 30 ngàn tấn, song lượng xuất khẩu lên đến gần 237 ngàn tấn. Như vậy, trên 200 ngàn tấn cà phê là do các doanh nghiệp mua từ các tỉnh khác đưa về tỉnh sơ chế, xuất khẩu.

Đại diện Tổng công ty Tín Nghĩa chia sẻ: “Sản lượng cà phê của Đồng Nai rất ít, doanh nghiệp phải mua hàng từ các tỉnh Tây Nguyên đưa về sơ chế, đóng gói và xuất khẩu. Cà phê của công ty xuất khẩu được sang nhiều nước trên thế giới. Năm nay, xuất khẩu cà phê thương đối thuận lợi, các doanh nghiệp mua vào bao nhiêu đều xuất khẩu luôn chứ không giữ hàng lại”. Theo một số doanh nghiệp, xuất khẩu cà phê năm nay tăng cao còn do lượng cà phê năm trước tồn lại chưa xuất khẩu được, năm nay các doanh nghiệp đồng loạt bán ra. Riêng trong tháng 8-2016, xuất khẩu cà phê của Đồng Nai đạt trên 31 ngàn tấn, tăng gần 3 ngàn tấn so với tháng 7. Cà phê là một trong 6 loại nông sản của tỉnh có sản lượng và kim ngạch xuất khẩu lớn nhất với gần 401 triệu USD. Đây cũng là loại nông sản có xuất siêu mà không nhập siêu.

Xuất khẩu cà phê của Đồng Nai hiện chiếm gần 20% tổng sản lượng xuất khẩu cà phê của cả nước. Thông tin từ Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn, xuất khẩu cà phê cả nước trong 8 tháng của năm đạt 1,27 triệu tấn với giá trị 2,25 tỷ USD, tăng khoảng 40% về lượng. Trong đó, xuất khẩu sang một số thị trường tăng mạnh là Philippines, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản. Dự báo của các chuyên gia kinh tế, giá cà phê từ nay đến hết năm 2016 tiếp tục còn biến động. Có khả năng giá sẽ giữ mức xấp xỉ 40 triệu đồng/tấn đến đầu vụ thu hoạch mới vào khoảng tháng 10, sau đó nguồn cung dồi dào nên giá cà phê có thể sẽ giảm.
Tại Đồng Nai, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư chế biến cà phê nhân thô thành các sản phẩm cà phê khá đa dạng để tiêu thụ tại thị trường trong nước, xuất khẩu. Việc chế biến sâu cà phê thành sản phẩm, nâng giá trị gia tăng cho cà phê.

 
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Chuyển từ kiểu tự cung tự cấp sang phát triển mang tính hàng hóa, số lượng lớn, chất lượng đồng đều, người chăn nuôi Việt Nam còn phải đối mặt với bài toán cung ứng sản phẩm “sạch” với giá cả phù hợp. Nhiều cơ sở chạy theo lợi nhuận, sản xuất bất chấp tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, thay vì xây dựng một nền chăn nuôi vững chắc và khoa học.

Ám ảnh ngộ độc
Thống kế cho thấy, năm 2013 cả nước có 167 vụ ngộ độc thực phẩm, 5.558 người bị ngộ độc, 28 người chết. Năm 2014 có 194 vụ, 5.203 người ngộ độc, 43 người chết. Năm 2015, 171 vụ, 4.965 người mắc và 23 trường hợp tử vong. Như vậy, ngộ độc thực phẩm không chỉ là hồi chuông báo động mà đang là hồi chuông báo tử.
Tính toán cũng cho thấy, chi phí mà xã hội bỏ ra không nhỏ để xử lý ngộ độc thực phẩm, đơn cử tiền thuốc men và viện phí cho mỗi nạn nhân ngộ độc do vi sinh vật chừng 300.000 - 500.000 đồng, ngộ độc do hóa chất (thuốc trừ sâu, phẩm màu...) 3 - 5 triệu đồng.
Phân loại nguyên nhân thì ngộ độc thực phẩm do nhiễm vi sinh vật chiếm tới 33 - 49%; vi khuẩn Salmonella là thủ phạm của 70% vụ; ô nhiễm hóa chất chiếm 11 - 27% và 27% số vụ do ăn phải thực phẩm tồn đọng hóa chất.
Chậm trễ trong giết mổ công nghiệp
Thực trạng giết mổ gia súc, gia cầm lạc hậu trở thành vấn đề nan giải hiện nay. Việc giết mổ thường diễn ra vào ban đêm, với khoảng thời gian ngắn, thiếu nhân lực, thiếu mặt bằng... Chưa kể, phương tiện vận chuyển heo, gà mới mổ chủ yếu là những chiếc xe máy cà tàng chạy khắp làng quê, thành thị, bất kể trời nắng, mưa hay khói bụi.
Việc xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp sẽ giúp người chăn nuôi ý thức được quy trình nuôi sạch. Ngoài ra, các cơ sở này cũng góp phần quản lý sản phẩm “đầu vào” nguyên liệu, bằng cách khuyến khích sản phẩm sạch theo nguyên tắc “nước chảy chỗ trũng”. Đáng tiếc là cả nước có tới 28.285 điểm giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ, trong khi chỉ 59 cơ sở giết mổ tập trung (chiếm 0,51%).
Thực trạng này được lý giải là do một số điểm giết mổ tập trung được đầu tư quy mô nhưng lại rơi vào tình trạng “khan hiếm nguyên liệu” do lượng gia súc, gia cầm cung ứng có nơi chỉ đạt 5% công suất. Còn người chăn nuôi cho rằng, việc bán sản phẩm cho thương lái và các lò mổ nhỏ lẻ thuận tiện lại giảm chi phí.
Quản lý lỏng lẻo
Người tiêu dùng vẫn quan niệm “Việc quản lý vệ sinh môi trường trước hết là quản lý từ gốc, tức là từ hộ chăn nuôi”. Nhưng từ trước đến nay, việc quản lý thường diễn ra ở các chợ, khi sản phẩm đã được giết mổ xong và trang thiết bị kiểm định lại thiếu thốn. Lâu nay, đa phần cơ quan chức năng tập trung vào lĩnh vực khuyến nông, còn việc quản lý thậm chí xử phạt hành chính về an toàn vệ sinh thực phẩm ngay tại các làng xã là rất khó khăn. 
Các nhà làm chuyên môn và quản lý cho rằng, để người chăn nuôi không sử dụng chất tạo nạc thì phải cần nhiều ngân sách truyên truyền đến tận người dân. Cần có lực lượng cán bộ đông đảo hơn. Song nếu cứ chăn nuôi nhỏ lẻ thì số lượng cán bộ chức năng sẽ phình ra ngày càng nhiều. Giải pháp để phát triển bền vững là xây dựng ngành chăn nuôi tập trung, quy hoạch vùng, hạn chế thiệt hại do dịch bệnh gây ra, tạo nên những sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao và được kiểm định thường xuyên chất lượng sản phẩm. Song vấn đề đầu ra lại đang gặp khá nhiều khó khăn đối với các vùng nuôi tập trung.
Liên kết chuỗi và thương hiệu
Khó khăn cho người tiêu dùng là không phân biệt được đâu là sản phẩm sạch trên thị trường. Giải quyết vấn đề này, các công ty cũng đã và đang xây dựng những mô hình liên kết chuỗi, truy xuất nguồn gốc.
xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp - chăn nuôi
Xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp góp phần phát triển thực phẩm sạch     Nguồn: skynews.com
Bài toán giá thành
Các sản phẩm “sạch” hiện vẫn còn ở mức giá cao so với mặt bằng chung là vấn đề không chỉ riêng đối với Việt Nam. Chẳng hạn, giá thịt heo được chăn nuôi theo quy trình hiện đại bền vững, không sử dụng kháng sinh, hóa chất ở Singapore đắt hơn gấp 4 lần so với sản phẩm cùng loại mà ngành chăn nuôi Việt Nam cung cấp cho thị trường.
Hiện đã có trên 100 trang trại chăn nuôi lớn và hơn 9.000 hộ chăn nuôi đã được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP. Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm (LIFSAP) do Ngân hàng Thế giới tài trợ với tổng vốn lên tới 79,03 triệu USD triển khai trên 12 tỉnh, thành phố của cả nước. Song việc sản xuất cũng cầm chừng. Giá thành sản xuất sản phẩm sạch theo hướng hiện đại có chi phí  cao hơn sản phẩm nuôi công nghiệp trước đây 2.000 - 4.000 đồng/kg. 
Thực tế là rất nhiều cửa hàng bán thực phẩm sạch mà chúng tôi tiếp cận chỉ sau thời gian ngắn đã phải đóng cửa vì vắng khách. Những cửa hàng vốn bán thực phẩm thường đang đông khách, khi chuyển sang bản thực phẩm sạch thì khách hàng giảm mạnh và thua lỗ nặng.
Nhiều chủ cửa hàng và các siêu thị cho rằng nhà nước nên có chính sách thiết thực phát triển các sản phẩm sạch, bằng cách có chính sách ưu đãi thuế, chính sách hỗ trợ về giá… tạo sức hút ban đầu đối với người dân khi sử dụng các sản phẩm VietGAP, các sản phẩm sạch của bà con nông dân.
>> Bên cạnh việc thay đổi nhận thức tiêu dùng của người dân hướng sang sản phẩm sạch, nói “không” với thực phẩm không an toàn, thì vấn đề của ngành chăn nuôi là phải cung cấp sản phẩm sạch ở mức giá có sức cạnh tranh tốt. Người nội trợ đánh giá, sản phẩm sạch hiện đắt hơn 2 - 3 lần thực phẩm bán trên thị trường nói chung.     
 
ĐTK tổng hợp

Phát triển thực phẩm sạch: Cần những chính sách cụ thể

Chuyển từ kiểu tự cung tự cấp sang phát triển mang tính hàng hóa, số lượng lớn, chất lượng đồng đều, người chăn nuôi Việt Nam còn phải đối mặt với bài toán cung ứng sản phẩm “sạch” với giá cả phù hợp. Nhiều cơ sở chạy theo lợi nhuận, sản xuất bất chấp tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, thay vì xây dựng một nền chăn nuôi vững chắc và khoa học.

Ám ảnh ngộ độc
Thống kế cho thấy, năm 2013 cả nước có 167 vụ ngộ độc thực phẩm, 5.558 người bị ngộ độc, 28 người chết. Năm 2014 có 194 vụ, 5.203 người ngộ độc, 43 người chết. Năm 2015, 171 vụ, 4.965 người mắc và 23 trường hợp tử vong. Như vậy, ngộ độc thực phẩm không chỉ là hồi chuông báo động mà đang là hồi chuông báo tử.
Tính toán cũng cho thấy, chi phí mà xã hội bỏ ra không nhỏ để xử lý ngộ độc thực phẩm, đơn cử tiền thuốc men và viện phí cho mỗi nạn nhân ngộ độc do vi sinh vật chừng 300.000 - 500.000 đồng, ngộ độc do hóa chất (thuốc trừ sâu, phẩm màu...) 3 - 5 triệu đồng.
Phân loại nguyên nhân thì ngộ độc thực phẩm do nhiễm vi sinh vật chiếm tới 33 - 49%; vi khuẩn Salmonella là thủ phạm của 70% vụ; ô nhiễm hóa chất chiếm 11 - 27% và 27% số vụ do ăn phải thực phẩm tồn đọng hóa chất.
Chậm trễ trong giết mổ công nghiệp
Thực trạng giết mổ gia súc, gia cầm lạc hậu trở thành vấn đề nan giải hiện nay. Việc giết mổ thường diễn ra vào ban đêm, với khoảng thời gian ngắn, thiếu nhân lực, thiếu mặt bằng... Chưa kể, phương tiện vận chuyển heo, gà mới mổ chủ yếu là những chiếc xe máy cà tàng chạy khắp làng quê, thành thị, bất kể trời nắng, mưa hay khói bụi.
Việc xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp sẽ giúp người chăn nuôi ý thức được quy trình nuôi sạch. Ngoài ra, các cơ sở này cũng góp phần quản lý sản phẩm “đầu vào” nguyên liệu, bằng cách khuyến khích sản phẩm sạch theo nguyên tắc “nước chảy chỗ trũng”. Đáng tiếc là cả nước có tới 28.285 điểm giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ, trong khi chỉ 59 cơ sở giết mổ tập trung (chiếm 0,51%).
Thực trạng này được lý giải là do một số điểm giết mổ tập trung được đầu tư quy mô nhưng lại rơi vào tình trạng “khan hiếm nguyên liệu” do lượng gia súc, gia cầm cung ứng có nơi chỉ đạt 5% công suất. Còn người chăn nuôi cho rằng, việc bán sản phẩm cho thương lái và các lò mổ nhỏ lẻ thuận tiện lại giảm chi phí.
Quản lý lỏng lẻo
Người tiêu dùng vẫn quan niệm “Việc quản lý vệ sinh môi trường trước hết là quản lý từ gốc, tức là từ hộ chăn nuôi”. Nhưng từ trước đến nay, việc quản lý thường diễn ra ở các chợ, khi sản phẩm đã được giết mổ xong và trang thiết bị kiểm định lại thiếu thốn. Lâu nay, đa phần cơ quan chức năng tập trung vào lĩnh vực khuyến nông, còn việc quản lý thậm chí xử phạt hành chính về an toàn vệ sinh thực phẩm ngay tại các làng xã là rất khó khăn. 
Các nhà làm chuyên môn và quản lý cho rằng, để người chăn nuôi không sử dụng chất tạo nạc thì phải cần nhiều ngân sách truyên truyền đến tận người dân. Cần có lực lượng cán bộ đông đảo hơn. Song nếu cứ chăn nuôi nhỏ lẻ thì số lượng cán bộ chức năng sẽ phình ra ngày càng nhiều. Giải pháp để phát triển bền vững là xây dựng ngành chăn nuôi tập trung, quy hoạch vùng, hạn chế thiệt hại do dịch bệnh gây ra, tạo nên những sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao và được kiểm định thường xuyên chất lượng sản phẩm. Song vấn đề đầu ra lại đang gặp khá nhiều khó khăn đối với các vùng nuôi tập trung.
Liên kết chuỗi và thương hiệu
Khó khăn cho người tiêu dùng là không phân biệt được đâu là sản phẩm sạch trên thị trường. Giải quyết vấn đề này, các công ty cũng đã và đang xây dựng những mô hình liên kết chuỗi, truy xuất nguồn gốc.
xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp - chăn nuôi
Xây dựng các điểm giết mổ công nghiệp góp phần phát triển thực phẩm sạch     Nguồn: skynews.com
Bài toán giá thành
Các sản phẩm “sạch” hiện vẫn còn ở mức giá cao so với mặt bằng chung là vấn đề không chỉ riêng đối với Việt Nam. Chẳng hạn, giá thịt heo được chăn nuôi theo quy trình hiện đại bền vững, không sử dụng kháng sinh, hóa chất ở Singapore đắt hơn gấp 4 lần so với sản phẩm cùng loại mà ngành chăn nuôi Việt Nam cung cấp cho thị trường.
Hiện đã có trên 100 trang trại chăn nuôi lớn và hơn 9.000 hộ chăn nuôi đã được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP. Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm (LIFSAP) do Ngân hàng Thế giới tài trợ với tổng vốn lên tới 79,03 triệu USD triển khai trên 12 tỉnh, thành phố của cả nước. Song việc sản xuất cũng cầm chừng. Giá thành sản xuất sản phẩm sạch theo hướng hiện đại có chi phí  cao hơn sản phẩm nuôi công nghiệp trước đây 2.000 - 4.000 đồng/kg. 
Thực tế là rất nhiều cửa hàng bán thực phẩm sạch mà chúng tôi tiếp cận chỉ sau thời gian ngắn đã phải đóng cửa vì vắng khách. Những cửa hàng vốn bán thực phẩm thường đang đông khách, khi chuyển sang bản thực phẩm sạch thì khách hàng giảm mạnh và thua lỗ nặng.
Nhiều chủ cửa hàng và các siêu thị cho rằng nhà nước nên có chính sách thiết thực phát triển các sản phẩm sạch, bằng cách có chính sách ưu đãi thuế, chính sách hỗ trợ về giá… tạo sức hút ban đầu đối với người dân khi sử dụng các sản phẩm VietGAP, các sản phẩm sạch của bà con nông dân.
>> Bên cạnh việc thay đổi nhận thức tiêu dùng của người dân hướng sang sản phẩm sạch, nói “không” với thực phẩm không an toàn, thì vấn đề của ngành chăn nuôi là phải cung cấp sản phẩm sạch ở mức giá có sức cạnh tranh tốt. Người nội trợ đánh giá, sản phẩm sạch hiện đắt hơn 2 - 3 lần thực phẩm bán trên thị trường nói chung.     
 
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Dịch bệnh tiêu chảy cấp tính trên lợn - PED (Porcine Epidemic Diarroea) do Coronavirus gây ra. PED lây lan nhanh và gây tỉ lệ chết cao trên lợn, đặc biệt là lợn con theo mẹ. Lợn con từ 0-5 ngày tuổi mắc bệnh tỉ lệ chết 100%, lợn con trên 7 ngày tuổi mắc bệnh tỉ lệ chết 30-50%, gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi.

1. Nguyên nhân bệnh
Bệnh gây ra do virus PED tấn công vào hệ nhung mao thành ruột làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng và gây mất nước, lợn bị tiêu chảy, đặc biệt lợn con thường bị tiêu chảy cấp tính và chết nhanh. Bệnh lây lan rất nhanh trong đàn.
Bệnh thường xảy ra với lợn nuôi ở chuồng trại ẩm ướt, lạnh, bẩn, lợn con chưa được tiêm sắt, lợn mẹ chưa được tiêm phòng đầy đủ.
Virus PED tồn tại lâu trong môi trường và chất thải chăn nuôi nhưng lại dễ bị tiêu diệt bởi ánh sáng và chất sát trùng. Vì vậy, công tác vệ sinh và khử trùng chuồng trại, môi trường chăn nuôi là khâu rất quan trọng trong phòng chống dịch bệnh này.

2. Cách lây lan
Bệnh lây lan và phát dịch nhanh chóng, bệnh lây trực tiếp từ lợn ốm sang lợn khỏe (qua phân, dịch tiết…) và lây lan gián tiếp qua phương tiện vận chuyển, đặc biệt là xe và người ra vào mua bán lợn tại trại, qua thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh. Sau khi xâm nhập qua đường tiêu hóa, virus PED tăng lên nhanh ở ruột non, ăn mòn lớp nhung mao ruột, làm cho ruột mỏng dần, xuất huyết, lợn không tiêu hóa được thức ăn, gây nôn mửa và tiêu chảy. Lợn con bị bệnh do sữa chưa tiêu nên phân và dịch nôn có màu trắng đục, vàng nhạt hoặc đậm. Sau khi virus xâm nhập vào sau 18-24 giờ đã có biểu hiện lâm sàng trên đàn lợn.

3. Triệu chứng lâm sàng

 
Lợn con bị bệnh tiêu chảy cấp, phân màu vàng do sữa không được tiêu hóa

Lợn con theo mẹ bú ít hoặc bỏ bú. Lợn con bị tiêu chảy cấp, phân lỏng, mùi tanh, phân màu trắng đục hoặc vàng nhạt, phân dính bết ở hậu môn. Lợn có hiện tượng nôn mửa do sữa không tiêu, con vật bỏ bú, mất nước, thân nhiệt giảm nên hay có hiện tượng nằm lên bụng lợn mẹ. Bệnh lây lan nhanh chóng trong đàn. Bệnh gây ra do virus nên điều trị kháng sinh không khỏi. Bệnh lây lan nhanh, gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi và gây hiện tượng lưu cữu mầm bệnh trong đất, nước và khu vực chăn nuôi.

4. Chẩn đoán
Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng như: lợn con tiêu chảy cấp tính, phân loãng màu vàng, tanh, có sữa không tiêu, bệnh lây lan nhanh trong đàn với tỷ lệ chết cao (với lợn con <5 ngày tuổi, tỉ lệ chết đến 100%). Lợn con gầy nhanh do mất nước, lợn con thích nằm lên bụng lợn mẹ. Đã điều trị bằng các loại kháng sinh không có kết quả, bệnh dễ nhầm với bệnh viêm dà dày ruột truyền nhiềm (TGE) và bệnh do cầu trùng Cocidiosis.
Chẩn đoán phân biệt: Chẩn đoán huyết thanh học, dùng Test kiểm tra nhanh phát hiện mầm bệnh.

 
Test kiểm tra nhanh phát hiện mầm bệnh tiêu chảy cấp do PED

- Phân biệt các bệnh:
+ Quá trình lây lan nhanh trong đàn có thể là do PED, TGE…; lây lan chậm có thể là do E.coli, Cocidiosis…
+ Bệnh do PED thường ở mọi lứa tuổi; TGE thường trong 20 ngày tuổi đầu tiên, Cocidiosis thường sau 1 tuần tuổi.
+ Tỉ lệ bệnh, chết: Bệnh gây chết nhiều, nhanh, điều trị bằng các kháng sinh đặc hiệu mà không có kết quả có thể là bệnh PED, TGE. Bệnh do E.coli, Cocidiosis… điều trị bằng kháng sinh và thuốc trị cầu trùng đặc hiệu là khỏi.

5. Phòng bệnh
- Lợn mẹ: tiêm phòng đầy đủ các loại vắcxin (bao gồm vắcxin PED)
- Lợn con: tiêm sắt
- Chuồng trại: Giữ chuồng ấm, khô, sạch
- Chống mất nước: Cho lợn uống chất điện giải hoặc tiêm xoang bụng dung dịch glucoza, nước muối sinh lý, lactat…
- Giảm nhu động ruột bằng cho uống nước lá chat (lá ổi hoặc trà bắc và vài lát gừng) hoặc tiêm Atropin.
- Cân bằng tập đoàn vi sinh đường ruột bằng cách bổ sung men tiêu hóa.
- Tùy nguy cơ bệnh kế phát có thể: Cho thuốc chống cầu trùng: Anticoc, Baycoc... hoặc cho uống thuốc kháng khuẩn đường ruột: Sulfamethoxazole, Trimethoprim, Colistin, Enronofloxacin, Oxytetrcyclin...

6. Thực hiện chăn nuôi an toàn sinh học
- Đảm bảo cách ly: 
+ Chuồng trại có hàng rào ngăn cách giữa trong và ngoài trại, xe mua lợn  không được vào trong trại mà phải đỗ ở ngoài trại đúng nơi qui định.
+ Tăng cường kiểm soát người và các phương tiện ra vào trại, đặc biệt là các xe và người mua lợn, có thể mang mầm bệnh từ các nơi khác đến, đây là nguyên nhân chính làm lây lan dịch bệnh.
+ Xe vận chuyển trong trại sau khi vận chuyển phải được rửa, sát trùng, để khô mới được vận chuyển tiếp.
+ Có chuồng nuôi cách ly khu nuôi lợn mới nhập và khu bán lợn.
- Thường xuyên vệ sinh, khử trùng trong chuồng nuôi, môi trường xung quanh, có hố sát trùng ở cửa ra vào chuồng.

Đảm bảo chuồng trại sạch sẽ, khơi thông cống rãnh, quản lý tốt chất thải chăn nuôi.

- Thực hiện phương pháp chăn nuôi “Cùng vào, cùng ra”.
- Không nuôi nhiều loài gia súc, gia cầm chung trại hoặc nuôi lợn nái nuôi con cùng chuồng nuôi lợn ở các lứa tuổi.
- Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, tiêu độc sát trùng, diệt côn trùng gặm nhấm…
- Luôn tuân thủ qui tắc: KHÔ, SẠCH, ẤM cho chuồng nái nuôi con và chuồng lợn con.
- Lợn mẹ trong thời gian mang thai nên đảm bảo đầy đủ dưỡng chất cho bào thai, nuôi đúng kỹ thuật.

 
ĐTK tổng hợp
TS. Hạ Thúy Hạnh
PGĐ. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Dịch bệnh tiêu chảy cấp trên lợn con (PED) và cách phòng trị

Dịch bệnh tiêu chảy cấp tính trên lợn - PED (Porcine Epidemic Diarroea) do Coronavirus gây ra. PED lây lan nhanh và gây tỉ lệ chết cao trên lợn, đặc biệt là lợn con theo mẹ. Lợn con từ 0-5 ngày tuổi mắc bệnh tỉ lệ chết 100%, lợn con trên 7 ngày tuổi mắc bệnh tỉ lệ chết 30-50%, gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi.

1. Nguyên nhân bệnh
Bệnh gây ra do virus PED tấn công vào hệ nhung mao thành ruột làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng và gây mất nước, lợn bị tiêu chảy, đặc biệt lợn con thường bị tiêu chảy cấp tính và chết nhanh. Bệnh lây lan rất nhanh trong đàn.
Bệnh thường xảy ra với lợn nuôi ở chuồng trại ẩm ướt, lạnh, bẩn, lợn con chưa được tiêm sắt, lợn mẹ chưa được tiêm phòng đầy đủ.
Virus PED tồn tại lâu trong môi trường và chất thải chăn nuôi nhưng lại dễ bị tiêu diệt bởi ánh sáng và chất sát trùng. Vì vậy, công tác vệ sinh và khử trùng chuồng trại, môi trường chăn nuôi là khâu rất quan trọng trong phòng chống dịch bệnh này.

2. Cách lây lan
Bệnh lây lan và phát dịch nhanh chóng, bệnh lây trực tiếp từ lợn ốm sang lợn khỏe (qua phân, dịch tiết…) và lây lan gián tiếp qua phương tiện vận chuyển, đặc biệt là xe và người ra vào mua bán lợn tại trại, qua thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh. Sau khi xâm nhập qua đường tiêu hóa, virus PED tăng lên nhanh ở ruột non, ăn mòn lớp nhung mao ruột, làm cho ruột mỏng dần, xuất huyết, lợn không tiêu hóa được thức ăn, gây nôn mửa và tiêu chảy. Lợn con bị bệnh do sữa chưa tiêu nên phân và dịch nôn có màu trắng đục, vàng nhạt hoặc đậm. Sau khi virus xâm nhập vào sau 18-24 giờ đã có biểu hiện lâm sàng trên đàn lợn.

3. Triệu chứng lâm sàng

 
Lợn con bị bệnh tiêu chảy cấp, phân màu vàng do sữa không được tiêu hóa

Lợn con theo mẹ bú ít hoặc bỏ bú. Lợn con bị tiêu chảy cấp, phân lỏng, mùi tanh, phân màu trắng đục hoặc vàng nhạt, phân dính bết ở hậu môn. Lợn có hiện tượng nôn mửa do sữa không tiêu, con vật bỏ bú, mất nước, thân nhiệt giảm nên hay có hiện tượng nằm lên bụng lợn mẹ. Bệnh lây lan nhanh chóng trong đàn. Bệnh gây ra do virus nên điều trị kháng sinh không khỏi. Bệnh lây lan nhanh, gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi và gây hiện tượng lưu cữu mầm bệnh trong đất, nước và khu vực chăn nuôi.

4. Chẩn đoán
Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng như: lợn con tiêu chảy cấp tính, phân loãng màu vàng, tanh, có sữa không tiêu, bệnh lây lan nhanh trong đàn với tỷ lệ chết cao (với lợn con <5 ngày tuổi, tỉ lệ chết đến 100%). Lợn con gầy nhanh do mất nước, lợn con thích nằm lên bụng lợn mẹ. Đã điều trị bằng các loại kháng sinh không có kết quả, bệnh dễ nhầm với bệnh viêm dà dày ruột truyền nhiềm (TGE) và bệnh do cầu trùng Cocidiosis.
Chẩn đoán phân biệt: Chẩn đoán huyết thanh học, dùng Test kiểm tra nhanh phát hiện mầm bệnh.

 
Test kiểm tra nhanh phát hiện mầm bệnh tiêu chảy cấp do PED

- Phân biệt các bệnh:
+ Quá trình lây lan nhanh trong đàn có thể là do PED, TGE…; lây lan chậm có thể là do E.coli, Cocidiosis…
+ Bệnh do PED thường ở mọi lứa tuổi; TGE thường trong 20 ngày tuổi đầu tiên, Cocidiosis thường sau 1 tuần tuổi.
+ Tỉ lệ bệnh, chết: Bệnh gây chết nhiều, nhanh, điều trị bằng các kháng sinh đặc hiệu mà không có kết quả có thể là bệnh PED, TGE. Bệnh do E.coli, Cocidiosis… điều trị bằng kháng sinh và thuốc trị cầu trùng đặc hiệu là khỏi.

5. Phòng bệnh
- Lợn mẹ: tiêm phòng đầy đủ các loại vắcxin (bao gồm vắcxin PED)
- Lợn con: tiêm sắt
- Chuồng trại: Giữ chuồng ấm, khô, sạch
- Chống mất nước: Cho lợn uống chất điện giải hoặc tiêm xoang bụng dung dịch glucoza, nước muối sinh lý, lactat…
- Giảm nhu động ruột bằng cho uống nước lá chat (lá ổi hoặc trà bắc và vài lát gừng) hoặc tiêm Atropin.
- Cân bằng tập đoàn vi sinh đường ruột bằng cách bổ sung men tiêu hóa.
- Tùy nguy cơ bệnh kế phát có thể: Cho thuốc chống cầu trùng: Anticoc, Baycoc... hoặc cho uống thuốc kháng khuẩn đường ruột: Sulfamethoxazole, Trimethoprim, Colistin, Enronofloxacin, Oxytetrcyclin...

6. Thực hiện chăn nuôi an toàn sinh học
- Đảm bảo cách ly: 
+ Chuồng trại có hàng rào ngăn cách giữa trong và ngoài trại, xe mua lợn  không được vào trong trại mà phải đỗ ở ngoài trại đúng nơi qui định.
+ Tăng cường kiểm soát người và các phương tiện ra vào trại, đặc biệt là các xe và người mua lợn, có thể mang mầm bệnh từ các nơi khác đến, đây là nguyên nhân chính làm lây lan dịch bệnh.
+ Xe vận chuyển trong trại sau khi vận chuyển phải được rửa, sát trùng, để khô mới được vận chuyển tiếp.
+ Có chuồng nuôi cách ly khu nuôi lợn mới nhập và khu bán lợn.
- Thường xuyên vệ sinh, khử trùng trong chuồng nuôi, môi trường xung quanh, có hố sát trùng ở cửa ra vào chuồng.

Đảm bảo chuồng trại sạch sẽ, khơi thông cống rãnh, quản lý tốt chất thải chăn nuôi.

- Thực hiện phương pháp chăn nuôi “Cùng vào, cùng ra”.
- Không nuôi nhiều loài gia súc, gia cầm chung trại hoặc nuôi lợn nái nuôi con cùng chuồng nuôi lợn ở các lứa tuổi.
- Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, tiêu độc sát trùng, diệt côn trùng gặm nhấm…
- Luôn tuân thủ qui tắc: KHÔ, SẠCH, ẤM cho chuồng nái nuôi con và chuồng lợn con.
- Lợn mẹ trong thời gian mang thai nên đảm bảo đầy đủ dưỡng chất cho bào thai, nuôi đúng kỹ thuật.

 
ĐTK tổng hợp
TS. Hạ Thúy Hạnh
PGĐ. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Ðọc thêm..

Thanh kiểm tra về thuế nhiều nhưng không chỉ riêng thuế tới thanh kiểm tra, nhiều đoàn thanh tra đến tạo gánh nặng cho doanh nghiệp và chồng chéo, ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế VCCI cho biết.

Thời gian nộp thuế cao thứ hai khu vực

Tại hội thảo trình bày kết quả xác định chỉ số Nộp thuế và những đề xuất cải cách cho Việt Nam diễn ra ngày 18/12, bà Joanna Nasr, chuyên gia Ngân hàng thế giới (WB) đã đánh giá cao những cải cách thủ tục hành chính thuế của Việt Nam trong thời gian vừa qua.
Nhưng bà Joanna Nasr cũng cho biết, khoảng cách tới thông lệ quốc tế vẫn còn khá xa, đặc biệt là khi Việt Nam vẫn đứng thứ 2 ở châu Á - Thái Bình Dương về thời gian nộp thuế.
"Giờ nộp thuế và bảo hiểm xã hội là 770 giờ, Việt Nam là nước cao thứ 2 ở châu Á - Thái Bình Dương. Thời gian nộp thuế tới thực tiễn tốt nhất bị chấm 0 điểm như vậy khoảng cách tới thông lệ tốt nhất còn xa", bà Joanna Nasr nói.
Bà Joanna Nasr cho biết thêm, năm 2016 WB sẽ đưa thêm quy trình hậu kê khai thuế là thanh tra, hoàn thuế và giải quyết khiếu nại vào nội dung đo lường thời gian nộp thuế.
Cụ thể, những yếu tố được WB tính tới là doanh nghiệp phải bỏ bao nhiêu thời gian để chuẩn bị hồ sơ, chờ bao lâu để có kết quả từ cơ quan chức năng, tiền hoàn thuế được chi trả sao...
Về thanh tra thuế, đại diện WB cho biết, WB quan tâm thời gian để thu thập thông tin, chuẩn bị tài liệu bổ sung tới cơ quan thuế, cách thức nộp, khả năng doanh nghiệp bị thanh tra tờ khai thuế vì lý do sai sót nhỏ khi kê khai là như thế nào. 
WB đánh giá trong thập kỷ qua Việt Nam đang từng bước đơn giản hóa gánh nặng nộp thuế (Nguồn WB)
Khâu khiếu nại chính sách thuế, WB đưa ra một số tiêu chí như người nộp thuế sẽ khiếu nại với cơ quan nào, cơ quan đó có độc lập với thanh tra thuế hay không. 
Ngoài ra, để bắt đầu khiếu nại, người nộp thuế có phải bắt buộc nộp đủ số thuế đang khiếu nại, trường hợp chậm nộp doanh nghiệp có phải trả lãi không....
Thanh tra thuế chồng chéo
Nêu ý kiến tại hội thảo, ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, qua khảo sát hơn 2.500 doanh nghiệp ở 63 tỉnh thành năm 2014, doanh nghiệp phần lớn gặp khó vì biểu mẫu hay thay đổi, thời gian giải quyết dài.  Đối với doanh nghiệp nhà nước, khối doanh nghiệp này cảm thấy phiền hà ở khâu đăng ký thuế, thay đổi thông tin đăng ký thuế, doanh nghiệp FDI là hoàn thuế. 
"Việc thanh kiểm tra, khiếu nại 52% doanh nghiệp phải đón tiếp đoàn thanh kiểm tra năm 2014. Lưu ý là thanh kiểm tra về thuế nhiều nhưng không chỉ riêng thuế tới thanh kiểm tra, nhiều đoàn thanh tra đến tạo gánh nặng cho doanh nghiệp và chồng chéo", ông Thạch nói. 
Cũng theo ông Thanh, 25% doanh nghiệp cho biết nội dung thanh kiểm tra trùng lặp, 31% cách hiểu và áp dụng các quy định về thuế trong quá trình thanh kiểm tra của cán bộ thuế có xu hướng suy diễn bất lợi cho doanh nghiệp. 
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Đình Cư, Phó chủ tịch Hội tư vấn thuế Việt Nam cũng cho biết, phản ánh của các doanh nghiệp cho thấy, nhiều nội dung thanh tra hiện nay chồng chéo giữa thuế, Thanh tra Chính phủ và cơ quan chuyên ngành nhưng không sử dụng kết quả của nhau làm doanh nghiệp mất nhiều thời gian. 
Ông Cư cũng đề cập một vấn đề khác là giải quyết khiếu nại, Luật chỉ nói quyền khiếu nại nhưng không hướng dẫn thủ tục. Theo đó, khi doanh nghiệp viết công văn, quá thời gian mà mất quyền trong khi đáng ra là đơn, doanh nghiệp có khi gửi vượt cấp nên đơn không được giải quyết và qua thời gian giải quyết khiếu nại. 
Cũng theo ông Cư, hiện tại cơ quan thụ lý và giải quyết khiếu nại nằm trong cơ quan kiểm tra nội bộ, không độc lập, vừa kiểm tra các bộ phận ngành thuế và giải quyết khiếu nại nên không khách quan. "Cần củng cố pháp lý về khâu giải quyết khiếu nại, phải độc lập hóa bộ thanh tra và kiểm tra nội bộ", ông Cư đề xuất. 

ĐTK tổng hợp

Thanh tra thuế chồng chéo, tạo gánh nặng cho doanh nghiệp

Thanh kiểm tra về thuế nhiều nhưng không chỉ riêng thuế tới thanh kiểm tra, nhiều đoàn thanh tra đến tạo gánh nặng cho doanh nghiệp và chồng chéo, ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế VCCI cho biết.

Thời gian nộp thuế cao thứ hai khu vực

Tại hội thảo trình bày kết quả xác định chỉ số Nộp thuế và những đề xuất cải cách cho Việt Nam diễn ra ngày 18/12, bà Joanna Nasr, chuyên gia Ngân hàng thế giới (WB) đã đánh giá cao những cải cách thủ tục hành chính thuế của Việt Nam trong thời gian vừa qua.
Nhưng bà Joanna Nasr cũng cho biết, khoảng cách tới thông lệ quốc tế vẫn còn khá xa, đặc biệt là khi Việt Nam vẫn đứng thứ 2 ở châu Á - Thái Bình Dương về thời gian nộp thuế.
"Giờ nộp thuế và bảo hiểm xã hội là 770 giờ, Việt Nam là nước cao thứ 2 ở châu Á - Thái Bình Dương. Thời gian nộp thuế tới thực tiễn tốt nhất bị chấm 0 điểm như vậy khoảng cách tới thông lệ tốt nhất còn xa", bà Joanna Nasr nói.
Bà Joanna Nasr cho biết thêm, năm 2016 WB sẽ đưa thêm quy trình hậu kê khai thuế là thanh tra, hoàn thuế và giải quyết khiếu nại vào nội dung đo lường thời gian nộp thuế.
Cụ thể, những yếu tố được WB tính tới là doanh nghiệp phải bỏ bao nhiêu thời gian để chuẩn bị hồ sơ, chờ bao lâu để có kết quả từ cơ quan chức năng, tiền hoàn thuế được chi trả sao...
Về thanh tra thuế, đại diện WB cho biết, WB quan tâm thời gian để thu thập thông tin, chuẩn bị tài liệu bổ sung tới cơ quan thuế, cách thức nộp, khả năng doanh nghiệp bị thanh tra tờ khai thuế vì lý do sai sót nhỏ khi kê khai là như thế nào. 
WB đánh giá trong thập kỷ qua Việt Nam đang từng bước đơn giản hóa gánh nặng nộp thuế (Nguồn WB)
Khâu khiếu nại chính sách thuế, WB đưa ra một số tiêu chí như người nộp thuế sẽ khiếu nại với cơ quan nào, cơ quan đó có độc lập với thanh tra thuế hay không. 
Ngoài ra, để bắt đầu khiếu nại, người nộp thuế có phải bắt buộc nộp đủ số thuế đang khiếu nại, trường hợp chậm nộp doanh nghiệp có phải trả lãi không....
Thanh tra thuế chồng chéo
Nêu ý kiến tại hội thảo, ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, qua khảo sát hơn 2.500 doanh nghiệp ở 63 tỉnh thành năm 2014, doanh nghiệp phần lớn gặp khó vì biểu mẫu hay thay đổi, thời gian giải quyết dài.  Đối với doanh nghiệp nhà nước, khối doanh nghiệp này cảm thấy phiền hà ở khâu đăng ký thuế, thay đổi thông tin đăng ký thuế, doanh nghiệp FDI là hoàn thuế. 
"Việc thanh kiểm tra, khiếu nại 52% doanh nghiệp phải đón tiếp đoàn thanh kiểm tra năm 2014. Lưu ý là thanh kiểm tra về thuế nhiều nhưng không chỉ riêng thuế tới thanh kiểm tra, nhiều đoàn thanh tra đến tạo gánh nặng cho doanh nghiệp và chồng chéo", ông Thạch nói. 
Cũng theo ông Thanh, 25% doanh nghiệp cho biết nội dung thanh kiểm tra trùng lặp, 31% cách hiểu và áp dụng các quy định về thuế trong quá trình thanh kiểm tra của cán bộ thuế có xu hướng suy diễn bất lợi cho doanh nghiệp. 
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Đình Cư, Phó chủ tịch Hội tư vấn thuế Việt Nam cũng cho biết, phản ánh của các doanh nghiệp cho thấy, nhiều nội dung thanh tra hiện nay chồng chéo giữa thuế, Thanh tra Chính phủ và cơ quan chuyên ngành nhưng không sử dụng kết quả của nhau làm doanh nghiệp mất nhiều thời gian. 
Ông Cư cũng đề cập một vấn đề khác là giải quyết khiếu nại, Luật chỉ nói quyền khiếu nại nhưng không hướng dẫn thủ tục. Theo đó, khi doanh nghiệp viết công văn, quá thời gian mà mất quyền trong khi đáng ra là đơn, doanh nghiệp có khi gửi vượt cấp nên đơn không được giải quyết và qua thời gian giải quyết khiếu nại. 
Cũng theo ông Cư, hiện tại cơ quan thụ lý và giải quyết khiếu nại nằm trong cơ quan kiểm tra nội bộ, không độc lập, vừa kiểm tra các bộ phận ngành thuế và giải quyết khiếu nại nên không khách quan. "Cần củng cố pháp lý về khâu giải quyết khiếu nại, phải độc lập hóa bộ thanh tra và kiểm tra nội bộ", ông Cư đề xuất. 

ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Không chỉ đánh giá cao lợi ích đem lại từ thủ tục “Đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi NK” khi triển khai theo Cơ chế một cửa Quốc gia (NSW), hiện tại, các DN NK thức ăn chăn nuôi còn đang rất kỳ vọng vào việc sẽ có thêm hai thủ tục mới được triển khai theo NSW trong năm 2017 tới.

Lợi đủ đường
Công ty CP Thức ăn chăn nuôi Việt Thắng là DN chuyên NK nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi từ các thị trường như Mỹ, Ấn Độ, Đức… qua các cảng Cát Lái, Cái Mép… Bắt đầu áp dụng NSW đối với thủ tục “Đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi NK” từ tháng 12-2015, tuy nhiên ban đầu DN vẫn tiến hành song song cả hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử. Từ ngày 1-4, theo yêu cầu của Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), DN chính thức chuyển hoàn toàn sang hồ sơ điện tử.
Hầu hết DN NK thức ăn chăn nuôi đánh giá, việc triển khai NSW đã giúp DN tiết kiệm nhiều thời gian, công sức cũng như chi phí trong quá trình làm thủ tục. Ảnh: ST.
Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, ông Huỳnh Hải Phong, nhân viên XNK Công ty cho biết: Thời gian đầu áp dụng NSW, do chưa quen cũng như hệ thống còn một số trục trặc nên DN gặp một số khó khăn, vướng mắc. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại mọi việc diễn ra khá suôn sẻ, thuận lợi. “Trước đây, khi làm hồ sơ giấy, chỉ riêng việc gửi hồ sơ đăng ký và nhận phản hồi từ phía Cục Chăn nuôi, DN cũng mất khoảng 5-7 ngày. Nếu hồ sơ có sai sót gì cần chỉnh sửa, việc hoàn thiện còn lâu hơn do phải gửi đi gửi lại nhiều lần. Hiện nay, đối với NSW, DN sau khi gửi hồ sơ lên hệ thống Cổng thông tin một cửa Quốc gia, thông thường ngay trong ngày đã nhận được phản hồi từ Cục Chăn nuôi, rất tiện lợi, kịp thời. Đây là ưu điểm nổi bật mà DN nhận thấy”, ông Hải Phong nhấn mạnh.

Liên quan tới vấn đề này, ông Võ Hồng Phong, nhân viên XNK Công ty TNHH Thức ăn chăn nuôi Ngọc Long (DN chuyên NK nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi như cám, ngô, đậu nành… từ các thị trường Arghentina, Australia, Mỹ,…) cho hay: Trung bình mỗi tháng DN NK khoảng 3.000 tấn hàng, tương đương 6-7 lô. Như vậy, DN sẽ phải làm thủ tục “Đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi NK” 6-7 lần/tháng. Mặc dù thủ tục này đã được chính thức triển khai theo NSW từ tháng 9-2015, tuy nhiên từ tháng 3-2016, DN mới bắt đầu áp dụng. Qua một vài tháng, DN nhận thấy NSW thực sự đem lại những lợi ích thiết thực cho DN, hơn hẳn so với làm hồ sơ giấy. “Thời gian làm thủ tục rút ngắn, các thao tác ít hơn. DN cũng tiết kiệm nhiều công sức chạy đi chạy lại để gửi và nhận hồ sơ. Trước đây làm hồ sơ giấy, tổng thời gian từ khi DN nộp hồ sơ cho tới khi nhận kết quả cuối cùng trung bình khoảng 20 ngày thì với NSW, thời gian rút ngắn chỉ còn lại 10 ngày”, ông Hồng Phong nói.

Kỳ vọng thủ tục mới
Theo đại diện Cục Chăn nuôi, trong năm 2017 tới sẽ có thêm hai thủ tục hành chính được triển khai theo NSW, đó là “Miễn kiểm tra chất thức ăn chăn nuôi NK có thời hạn” và “Kiểm tra giảm chất lượng thức ăn chăn nuôi NK có thời hạn”.

Hầu hết các DN NK thức ăn chăn nuôi đều khá hồ hởi, mong đợi trước thông tin này. Theo ông Hải Phong, nhiều năm nay, DN thường xuyên NK các mặt hàng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi quen thuộc từ các đối tác truyền thống. Tuy nhiên, hầu như mỗi lần NK, DN lại vẫn phải tiến hành kiểm tra thông thường, lấy mẫu xét nghiệm các chỉ tiêu liên quan. Điều này tốn nhiều thời gian cũng như chi phí cho DN.
DN mong muốn sau một quá trình NK nhất định, khi các mặt hàng mà NK đều đáp ứng yêu cầu đặt ra, được phép NK thì sẽ được cơ quan quản lý Nhà nước xem xét  cho phép miễn kiểm tra thực tế, chỉ kiểm tra cảm quan hàng hóa. “DN cũng có kế hoạch nghiên cứu để đề xuất vấn đề này. Tuy nhiên, do ngần ngại thủ tục có thể còn nhiêu khê, khó khăn, không đạt mục tiêu nên DN vẫn chưa làm. Nếu thủ tục Miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi NK được triển khai theo NSW thì DN sẽ tự tin hơn, sẵn sàng áp dụng bởi yên tâm về sự rõ ràng, minh bạch”, ông Hải Phong nhấn mạnh.

Về điều này, đại diện một số DN NK thức ăn chăn nuôi chia sẻ thêm, hiện tại không ít DN cũng đang có kế hoạch đề nghị được phép miễn hoặc kiểm tra giảm chất lượng thức ăn chăn nuôi NK do thường NK các mặt hàng quen thuộc. Vì vậy, các DN mong muốn các thủ tục liên quan nêu trên sẽ sớm được áp dụng theo NSW để có thể chủ động tiến hành.

 
ĐTK tổng hợp

Doanh nghiệp NK thức ăn chăn nuôi: Mong chờ thủ tục mới theo Cơ chế một cửa Quốc gia

Không chỉ đánh giá cao lợi ích đem lại từ thủ tục “Đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi NK” khi triển khai theo Cơ chế một cửa Quốc gia (NSW), hiện tại, các DN NK thức ăn chăn nuôi còn đang rất kỳ vọng vào việc sẽ có thêm hai thủ tục mới được triển khai theo NSW trong năm 2017 tới.

Lợi đủ đường
Công ty CP Thức ăn chăn nuôi Việt Thắng là DN chuyên NK nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi từ các thị trường như Mỹ, Ấn Độ, Đức… qua các cảng Cát Lái, Cái Mép… Bắt đầu áp dụng NSW đối với thủ tục “Đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi NK” từ tháng 12-2015, tuy nhiên ban đầu DN vẫn tiến hành song song cả hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử. Từ ngày 1-4, theo yêu cầu của Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), DN chính thức chuyển hoàn toàn sang hồ sơ điện tử.
Hầu hết DN NK thức ăn chăn nuôi đánh giá, việc triển khai NSW đã giúp DN tiết kiệm nhiều thời gian, công sức cũng như chi phí trong quá trình làm thủ tục. Ảnh: ST.
Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, ông Huỳnh Hải Phong, nhân viên XNK Công ty cho biết: Thời gian đầu áp dụng NSW, do chưa quen cũng như hệ thống còn một số trục trặc nên DN gặp một số khó khăn, vướng mắc. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại mọi việc diễn ra khá suôn sẻ, thuận lợi. “Trước đây, khi làm hồ sơ giấy, chỉ riêng việc gửi hồ sơ đăng ký và nhận phản hồi từ phía Cục Chăn nuôi, DN cũng mất khoảng 5-7 ngày. Nếu hồ sơ có sai sót gì cần chỉnh sửa, việc hoàn thiện còn lâu hơn do phải gửi đi gửi lại nhiều lần. Hiện nay, đối với NSW, DN sau khi gửi hồ sơ lên hệ thống Cổng thông tin một cửa Quốc gia, thông thường ngay trong ngày đã nhận được phản hồi từ Cục Chăn nuôi, rất tiện lợi, kịp thời. Đây là ưu điểm nổi bật mà DN nhận thấy”, ông Hải Phong nhấn mạnh.

Liên quan tới vấn đề này, ông Võ Hồng Phong, nhân viên XNK Công ty TNHH Thức ăn chăn nuôi Ngọc Long (DN chuyên NK nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi như cám, ngô, đậu nành… từ các thị trường Arghentina, Australia, Mỹ,…) cho hay: Trung bình mỗi tháng DN NK khoảng 3.000 tấn hàng, tương đương 6-7 lô. Như vậy, DN sẽ phải làm thủ tục “Đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi NK” 6-7 lần/tháng. Mặc dù thủ tục này đã được chính thức triển khai theo NSW từ tháng 9-2015, tuy nhiên từ tháng 3-2016, DN mới bắt đầu áp dụng. Qua một vài tháng, DN nhận thấy NSW thực sự đem lại những lợi ích thiết thực cho DN, hơn hẳn so với làm hồ sơ giấy. “Thời gian làm thủ tục rút ngắn, các thao tác ít hơn. DN cũng tiết kiệm nhiều công sức chạy đi chạy lại để gửi và nhận hồ sơ. Trước đây làm hồ sơ giấy, tổng thời gian từ khi DN nộp hồ sơ cho tới khi nhận kết quả cuối cùng trung bình khoảng 20 ngày thì với NSW, thời gian rút ngắn chỉ còn lại 10 ngày”, ông Hồng Phong nói.

Kỳ vọng thủ tục mới
Theo đại diện Cục Chăn nuôi, trong năm 2017 tới sẽ có thêm hai thủ tục hành chính được triển khai theo NSW, đó là “Miễn kiểm tra chất thức ăn chăn nuôi NK có thời hạn” và “Kiểm tra giảm chất lượng thức ăn chăn nuôi NK có thời hạn”.

Hầu hết các DN NK thức ăn chăn nuôi đều khá hồ hởi, mong đợi trước thông tin này. Theo ông Hải Phong, nhiều năm nay, DN thường xuyên NK các mặt hàng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi quen thuộc từ các đối tác truyền thống. Tuy nhiên, hầu như mỗi lần NK, DN lại vẫn phải tiến hành kiểm tra thông thường, lấy mẫu xét nghiệm các chỉ tiêu liên quan. Điều này tốn nhiều thời gian cũng như chi phí cho DN.
DN mong muốn sau một quá trình NK nhất định, khi các mặt hàng mà NK đều đáp ứng yêu cầu đặt ra, được phép NK thì sẽ được cơ quan quản lý Nhà nước xem xét  cho phép miễn kiểm tra thực tế, chỉ kiểm tra cảm quan hàng hóa. “DN cũng có kế hoạch nghiên cứu để đề xuất vấn đề này. Tuy nhiên, do ngần ngại thủ tục có thể còn nhiêu khê, khó khăn, không đạt mục tiêu nên DN vẫn chưa làm. Nếu thủ tục Miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi NK được triển khai theo NSW thì DN sẽ tự tin hơn, sẵn sàng áp dụng bởi yên tâm về sự rõ ràng, minh bạch”, ông Hải Phong nhấn mạnh.

Về điều này, đại diện một số DN NK thức ăn chăn nuôi chia sẻ thêm, hiện tại không ít DN cũng đang có kế hoạch đề nghị được phép miễn hoặc kiểm tra giảm chất lượng thức ăn chăn nuôi NK do thường NK các mặt hàng quen thuộc. Vì vậy, các DN mong muốn các thủ tục liên quan nêu trên sẽ sớm được áp dụng theo NSW để có thể chủ động tiến hành.

 
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Kể từ 15 giờ, ngày 20/9, giá xăng khoáng RON 92 tăng 156 đồng/lít; xăng E5 tăng 145 đồng/lít. Trái lại, giá dầu diesel 0,05S giảm 133 đồng/lít, dầu hoả giảm 99 đồng/lít.

Giá xăng tăng nhẹ, giá dầu giảm từ 15h ngày 20/9. Ảnh: TTXVN

Kể từ 15 giờ, ngày 20/9, Liên Bộ Công Thương - Tài chính có quyết định điều chỉnh giá xăng dầu. 

Theo đó, giá xăng khoáng RON 92 tăng 156 đồng/lít; xăng E5 tăng 145 đồng/lít. Trái lại, giá dầu diesel 0,05S giảm 133 đồng/lít, dầu hoả giảm 99 đồng/lít. 

Đây là lần tăng giá xăng thứ ba sau 4 kỳ điều chỉnh giảm giá liên tiếp thời gian qua với tổng 3 lần tăng giá gần 1.600 đồng/lít; đồng thời cũng là lần điều chỉnh giá xăng thứ 18 trong năm nay, với 8 lần tăng giá (tổng cộng khoảng 4.300 đồng/lít với giá xăng), 8 lần giảm giá (tổng cộng khoảng 4.463 đồng/lít) và 2 lần giữ nguyên. So với thời gian đầu năm, giá xăng tại thời điểm hiện tại không có nhiều biến động. 

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường như sau: giá xăng RON 92 sẽ không cao hơn mức 16.232 đồng/lít, xăng E5 không cao hơn 15.981 đồng/lít, dầu diesel 0,05S không cao hơn 12.255 đồng/lít; dầu hỏa không cao hơn 10.886 đồng/lít... 

Theo liên Bộ, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước ngày 20/9 là 55,547 USD/thùng xăng RON 92, tăng 0,8 USD/thùng so với kỳ lần trước; 54,694 USD/thùng dầu diesel 0,05S, giảm gần 1 USD/thùng... 

Theo thông báo trên, Liên bộ đã thống nhất giữ nguyên mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành; Chi sử dụng Quỹ bình ổn đối với mặt hàng xăng RON 92 và E5 là 300 đồng/lít. 

Thời gian điều chỉnh giá xăng dầu trên cũng là thời điểm Liên Bộ công bố giá cơ sở lần này. Điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu quy định nhưng không sớm hơn 15 giờ ngày 20/9/2016 đối với mặt hàng xăng, dầu mazút; không muộn hơn 15 giờ ngày 20/9/2016 đối với mặt hàng dầu diesel, dầu hoả. 

Cho đến trước ngày Liên Bộ Công Thương - Tài chính công bố giá cơ sở kỳ kế tiếp, việc điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu quyết định phù hợp với các quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, Thông tư Liên tịch số 39/2014/TTLT-BCT-BTC./.

 
ĐTK tổng hợp

Giá xăng tăng nhẹ, giá dầu giảm từ 15h ngày 20/9

Kể từ 15 giờ, ngày 20/9, giá xăng khoáng RON 92 tăng 156 đồng/lít; xăng E5 tăng 145 đồng/lít. Trái lại, giá dầu diesel 0,05S giảm 133 đồng/lít, dầu hoả giảm 99 đồng/lít.

Giá xăng tăng nhẹ, giá dầu giảm từ 15h ngày 20/9. Ảnh: TTXVN

Kể từ 15 giờ, ngày 20/9, Liên Bộ Công Thương - Tài chính có quyết định điều chỉnh giá xăng dầu. 

Theo đó, giá xăng khoáng RON 92 tăng 156 đồng/lít; xăng E5 tăng 145 đồng/lít. Trái lại, giá dầu diesel 0,05S giảm 133 đồng/lít, dầu hoả giảm 99 đồng/lít. 

Đây là lần tăng giá xăng thứ ba sau 4 kỳ điều chỉnh giảm giá liên tiếp thời gian qua với tổng 3 lần tăng giá gần 1.600 đồng/lít; đồng thời cũng là lần điều chỉnh giá xăng thứ 18 trong năm nay, với 8 lần tăng giá (tổng cộng khoảng 4.300 đồng/lít với giá xăng), 8 lần giảm giá (tổng cộng khoảng 4.463 đồng/lít) và 2 lần giữ nguyên. So với thời gian đầu năm, giá xăng tại thời điểm hiện tại không có nhiều biến động. 

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường như sau: giá xăng RON 92 sẽ không cao hơn mức 16.232 đồng/lít, xăng E5 không cao hơn 15.981 đồng/lít, dầu diesel 0,05S không cao hơn 12.255 đồng/lít; dầu hỏa không cao hơn 10.886 đồng/lít... 

Theo liên Bộ, bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước ngày 20/9 là 55,547 USD/thùng xăng RON 92, tăng 0,8 USD/thùng so với kỳ lần trước; 54,694 USD/thùng dầu diesel 0,05S, giảm gần 1 USD/thùng... 

Theo thông báo trên, Liên bộ đã thống nhất giữ nguyên mức trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành; Chi sử dụng Quỹ bình ổn đối với mặt hàng xăng RON 92 và E5 là 300 đồng/lít. 

Thời gian điều chỉnh giá xăng dầu trên cũng là thời điểm Liên Bộ công bố giá cơ sở lần này. Điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu quy định nhưng không sớm hơn 15 giờ ngày 20/9/2016 đối với mặt hàng xăng, dầu mazút; không muộn hơn 15 giờ ngày 20/9/2016 đối với mặt hàng dầu diesel, dầu hoả. 

Cho đến trước ngày Liên Bộ Công Thương - Tài chính công bố giá cơ sở kỳ kế tiếp, việc điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu quyết định phù hợp với các quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, Thông tư Liên tịch số 39/2014/TTLT-BCT-BTC./.

 
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..