Sắp tới (4/3/2017) tại xã Tề Lễ, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ sẽ diễn ra Lễ khánh thành, chính thức đưa vào vận hành giai đoạn 1 Nhà máy Sản xuất Trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ do Công ty Cổ phần ĐTK làm chủ đầu tư.

Đây là nhà máy sản xuất trứng gà sạch công nghệ cao hàng đầu thế giới được triển khai tại Việt Nam, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất trong chăn nuôi gà đẻ trứng của Nhật, Mỹ, Isarel có khả năng kiểm soát an toàn sinh học trong toàn bộ quy trình sản xuất trứng, để cho ra đời những quả trứng sạch, tươi ngon, bổ dưỡng, có chất lượng cao phục vụ người tiêu dùng.
Cách Hà Nội 110km, vị trí giao thông đi lại thuận lợi, nhà máy được xây dựng trên diện tích hơn 42 hecta tại xã Tề Lễ huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, tổng số vốn đầu tư trên 800 tỷ đồng, sau khi đi vào hoạt động toàn bộ 02 giai đoạn, Nhà máy Sản xuất Trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ có công suất 175 triệu quả trứng/năm, đây là nhà máy đầu tiên tại Việt Nam có khả năng kiểm soát an toàn sinh học trong toàn bộ quy trình sản xuất trứng sạch.
Đây là nhà máy đầu tiên tại Việt Nam có khả năng kiểm soát an toàn sinh học trong toàn bộ quy trình sản xuất trứng sạch.
Kiểm soát nguyên liệu đầu vào và chất lượng thức ăn chăn nuôi
Chất lượng nguyên liệu và công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi là yếu tố đầu vào mang tính quyết định chất lượng của sản phẩm trứng. Với lợi thế là 1 trong những đơn vị nhập khẩu thương mại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi lớn nhất Việt Nam, trung bình 150.000 tấn nguyên liệu/năm từ các nước Nam Mỹ, Mỹ, Hà Lan, Đức, Pháp,…đồng thời sở hữu Nhà máy thức ăn chăn nuôi Ngọc Hồi với hệ thống thiết bị sản xuất của Van Aarsen (Hà Lan) giúp ĐTK kiểm soát được tối đa yếu tố này. Nguồn thức ăn chăn nuôi được đảm bảo kiểm soát tốt về dinh dưỡng, chất lượng và yếu tố “sạch”, từ đó đảm bảo được yêu cầu khắt khe về nguyên liệu đầu vào của nhà máy sản xuất trứng.
Kiểm soát an toàn sinh học và chất lượng con giống
Nhà máy sản xuất trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam mạnh dạn đầu tư 100% các con giống chất lượng hàng đầu từ những thương hiệu uy tín trên thế giới như gà giống của tập đoàn Hy-line Mỹ, tập đoàn hàng đầu thế giới về giống gà đẻ trứng, có bề dày về công nghệ gen phân tử, cung cấp giống cho hơn 130 nước, với thị phần gà giống trứng tại Mỹ chiếm trên 70%, hơn 60% tại Trung Quốc và trên 50% tại 10 thị trường lớn nhất toàn cầu.
Trại gà giống Quảng Nam của ĐTK với hệ thống thiết bị chăn nuôi công nghệ Big Dutchman (Đức) kết hợp quy trình chăm sóc nuôi dưỡng chặt chẽ của Tập đoàn ISE Food Nhật Bản, thương hiệu số 1 về chăn nuôi gà trứng với hơn 100 năm lịch sử hình thành và phát triển.
Những quả trứng giống được lựa chọn theo tiêu chuẩn của Hy-line Mỹ dưới sự hướng dẫn và giám sát kỹ càng của các chuyên gia tập đoàn ISE Food – Nhật bản, được đưa vào hệ thống ấp nở, đảm bảo đáp ứng các điều kiện về vệ sinh, kỹ thuật để cho ra đàn gà con khỏe mạnh.
Nhà máy Sản xuất Trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ có công suất 175 triệu quả trứng/năm
Kiểm soát an toàn sinh học và vệ sinh an toàn thực phẩm
Đàn gà thương phẩm khỏe mạnh được chuyển đến Nhà máy sản xuất trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ. Tại đây, chúng được chăm sóc, nuôi dưỡng trong điều kiện lý tưởng của hệ thống nhà tiền chế cách nhiệt Agrotop (Israel), hệ thống lồng nuôi, thiết bị điều khiển nhiệt độ, độ ẩm, lưu lượng gió của Hytem (Nhật Bản) và hệ thống làm sạch nước của Nagakawa (Nhật Bản)
Hệ thống nhà tiền chế Agrotop (Israel) có độ bền cao, cách nhiệt tốt, đảm bảo khả năng điều hòa nhiệt độ tốt cho môi trường bên trong nhà, đồng thời thiết kế của Agrotop cũng tạo môi trường chăn nuôi cách li bên trong và bên ngoài, đảm bảo quy trình chăn nuôi khép kín và ngăn ngừa mọi dịch bệnh có thể phát sinh; Hệ thống lồng chuồng Hytem (Nhật Bản) ứng dụng các công nghệ tự động trong việc cung cấp thức ăn, nước uống, thu gom và xử lý trứng. Hệ thống thông hơi của Hytem có khả năng xử lý thông minh sự khác biệt về khí hậu giữa mùa đông và mùa hè; Dây chuyền xử lý và đóng gói trứng tự động của Nabel (Nhật Bản) loại bỏ các yếu tố vật lý, hóa học, các vi sinh vật và vi khuẩn (như salmonella) trên bề mặt vỏ, dò ra vỏ trứng bất thường, nhiễm bẩn, dính thịt hay máu, dò tìm bụi bẩn và trứng nứt, chỉ những quả trứng đạt tiêu chuẩn mới được chuyển sang đóng gói để xuất ra thị trường.
Môi trường Nhà máy sản xuất trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ luôn được giữ sạch sẽ, đảm bảo cách ly và an toàn sinh học tuyệt đối.
Các phương tiện chuyên dụng, hay công nhân vào nhà máy làm việc đều phải tuân thủ quy trình khử trùng cách ly nghiêm ngặt. Rửa tay bằng cồn sinh học. Bước qua khay sát trùng để loại bỏ các vi khuẩn có thể bám theo giày. Đi qua nhà tắm nước khử trùng. Thay trang phục chuyên dụng. Chỉ những người mặc trang phục chuyên dụng đã được chuẩn bị sẵn mới được vào trong nhà máy.
Từ phân khu này đi qua phân khu khác, quy trình khử trùng này tiếp tục được lặp lại. Toàn bộ phân gà của Nhà máy được thu gom và xử lý theo phương pháp lên men vi sinh, với dây chuyền công nghệ được nhập khẩu từ hãng Chubu Ecotec (Nhật Bản), tạo ra sản phẩm phân bón hữu cơ sạch với công suất 7.000 tấn/năm.
Bằng hệ thống xử lý chất thải và hệ thống silo ủ phân gà tươi thành phân bón vi sinh của Chubu Ecotec, Nhà máy sản xuất trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ đã thực sự mang lại hiệu quả bảo vệ môi trường và công nghệ xanh hóa hàng đầu thế giới đến cho nền nông nghiệp Việt Nam.
Toàn bộ quy trình sản xuất hoàn toàn tự động và khép kín, kiểm soát và cách ly tối đa với môi trường bên ngoài
Tự hào là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam kiểm soát an toàn sinh học trong toàn bộ quy trình sản xuất trứng
Toàn bộ quy trình sản xuất của Nhà máy Trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ hoàn toàn tự động và khép kín, kiểm soát và cách ly tối đa với môi trường bên ngoài, đảm bảo an toàn sinh học, an toàn vệ sinh thực phẩm luôn ở mức cao nhất.
Đây là lần đầu tiên, một công ty 100% vốn Việt nam đầu tư vào một hệ thống công nghệ cao hàng đầu thế giới, khép kín từ sản xuất nguyên liệu thức ăn đầu vào, chăn nuôi gà hậu bị, chăm sóc gà thương phẩm, xử lý môi trường, đến thu gom, xử lý và đóng gói trứng thành phẩm ở quy mô lớn và có thể truy xuất nguồn gốc rõ ràng trong từng khâu sản xuất.
Thời gian cung ứng sản phẩm từ khi gà đẻ tới hệ thống cửa hàng, siêu thị chỉ trong vòng 24 giờ.
Dự án Nhà máy Sản xuất Trứng gà sạch do Công ty CP ĐTK làm chủ đầu tư. Sau hơn 10 tháng khẩn trương xây dựng và hoàn thiện, ngày 21/11/2016 vừa qua, Nhà máy SX Trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ đã chính thức chào đón lô gà 1 ngày tuổi đầu tiên, chính thức đưa khu gà hậu bị đi vào hoạt động. Tại đây, những đàn gà được chăm sóc và nuôi dưỡng đặc biệt, trong điều kiện lý tưởng, cách ly với môi trường bên ngoài, kiểm soát tốt các vấn đề an toàn sinh học.
Sau 16 tuần kể từ thời điểm trên, giữa tháng 03/2017, đàn gà đầu tiên sẽ được chuyển sang khu gà đẻ để sản xuất trứng. Và trong tháng 04/2017, nhà máy sẽ cung cấp những quả trứng gà đầu tiên ra thị trường.
ĐTK là doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam có gần 30 năm gắn bó và đồng hành cùng nhà nông (từ năm 1988) với lĩnh vực khởi nghiệp là kinh doanh thuốc thú y, khi ngành chăn nuôi còn chưa phát triển.
Với những nỗ lực không ngừng vươn lên, đến nay ĐTK sở hữu 08 đơn vị thành viên hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, mỗi đơn vị đóng vai trò là một mắt xích quan trọng không thể tách rời trong chuỗi sản xuất chăn nuôi khép kín của mình.
Từ năm 2013, ĐTK vinh dự được nằm trong Top đầu 500 Doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam. doanh thu trung bình đạt hơn 5.000 tỷ đồng và mảng xuất khẩu nông sản liên tục nằm trong Top 5 đơn vị xuất khẩu cà phê lớn nhất tại Việt Nam.
 
ĐTK tổng hợp theo báo Diễn đàn dân trí Việt Nam

Người tiêu dùng Việt sắp được ăn trứng gà sạch công nghệ cao, tiêu chuẩn Nhật

Sắp tới (4/3/2017) tại xã Tề Lễ, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ sẽ diễn ra Lễ khánh thành, chính thức đưa vào vận hành giai đoạn 1 Nhà máy Sản xuất Trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ do Công ty Cổ phần ĐTK làm chủ đầu tư.

Đây là nhà máy sản xuất trứng gà sạch công nghệ cao hàng đầu thế giới được triển khai tại Việt Nam, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất trong chăn nuôi gà đẻ trứng của Nhật, Mỹ, Isarel có khả năng kiểm soát an toàn sinh học trong toàn bộ quy trình sản xuất trứng, để cho ra đời những quả trứng sạch, tươi ngon, bổ dưỡng, có chất lượng cao phục vụ người tiêu dùng.
Cách Hà Nội 110km, vị trí giao thông đi lại thuận lợi, nhà máy được xây dựng trên diện tích hơn 42 hecta tại xã Tề Lễ huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, tổng số vốn đầu tư trên 800 tỷ đồng, sau khi đi vào hoạt động toàn bộ 02 giai đoạn, Nhà máy Sản xuất Trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ có công suất 175 triệu quả trứng/năm, đây là nhà máy đầu tiên tại Việt Nam có khả năng kiểm soát an toàn sinh học trong toàn bộ quy trình sản xuất trứng sạch.
Đây là nhà máy đầu tiên tại Việt Nam có khả năng kiểm soát an toàn sinh học trong toàn bộ quy trình sản xuất trứng sạch.
Kiểm soát nguyên liệu đầu vào và chất lượng thức ăn chăn nuôi
Chất lượng nguyên liệu và công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi là yếu tố đầu vào mang tính quyết định chất lượng của sản phẩm trứng. Với lợi thế là 1 trong những đơn vị nhập khẩu thương mại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi lớn nhất Việt Nam, trung bình 150.000 tấn nguyên liệu/năm từ các nước Nam Mỹ, Mỹ, Hà Lan, Đức, Pháp,…đồng thời sở hữu Nhà máy thức ăn chăn nuôi Ngọc Hồi với hệ thống thiết bị sản xuất của Van Aarsen (Hà Lan) giúp ĐTK kiểm soát được tối đa yếu tố này. Nguồn thức ăn chăn nuôi được đảm bảo kiểm soát tốt về dinh dưỡng, chất lượng và yếu tố “sạch”, từ đó đảm bảo được yêu cầu khắt khe về nguyên liệu đầu vào của nhà máy sản xuất trứng.
Kiểm soát an toàn sinh học và chất lượng con giống
Nhà máy sản xuất trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam mạnh dạn đầu tư 100% các con giống chất lượng hàng đầu từ những thương hiệu uy tín trên thế giới như gà giống của tập đoàn Hy-line Mỹ, tập đoàn hàng đầu thế giới về giống gà đẻ trứng, có bề dày về công nghệ gen phân tử, cung cấp giống cho hơn 130 nước, với thị phần gà giống trứng tại Mỹ chiếm trên 70%, hơn 60% tại Trung Quốc và trên 50% tại 10 thị trường lớn nhất toàn cầu.
Trại gà giống Quảng Nam của ĐTK với hệ thống thiết bị chăn nuôi công nghệ Big Dutchman (Đức) kết hợp quy trình chăm sóc nuôi dưỡng chặt chẽ của Tập đoàn ISE Food Nhật Bản, thương hiệu số 1 về chăn nuôi gà trứng với hơn 100 năm lịch sử hình thành và phát triển.
Những quả trứng giống được lựa chọn theo tiêu chuẩn của Hy-line Mỹ dưới sự hướng dẫn và giám sát kỹ càng của các chuyên gia tập đoàn ISE Food – Nhật bản, được đưa vào hệ thống ấp nở, đảm bảo đáp ứng các điều kiện về vệ sinh, kỹ thuật để cho ra đàn gà con khỏe mạnh.
Nhà máy Sản xuất Trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ có công suất 175 triệu quả trứng/năm
Kiểm soát an toàn sinh học và vệ sinh an toàn thực phẩm
Đàn gà thương phẩm khỏe mạnh được chuyển đến Nhà máy sản xuất trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ. Tại đây, chúng được chăm sóc, nuôi dưỡng trong điều kiện lý tưởng của hệ thống nhà tiền chế cách nhiệt Agrotop (Israel), hệ thống lồng nuôi, thiết bị điều khiển nhiệt độ, độ ẩm, lưu lượng gió của Hytem (Nhật Bản) và hệ thống làm sạch nước của Nagakawa (Nhật Bản)
Hệ thống nhà tiền chế Agrotop (Israel) có độ bền cao, cách nhiệt tốt, đảm bảo khả năng điều hòa nhiệt độ tốt cho môi trường bên trong nhà, đồng thời thiết kế của Agrotop cũng tạo môi trường chăn nuôi cách li bên trong và bên ngoài, đảm bảo quy trình chăn nuôi khép kín và ngăn ngừa mọi dịch bệnh có thể phát sinh; Hệ thống lồng chuồng Hytem (Nhật Bản) ứng dụng các công nghệ tự động trong việc cung cấp thức ăn, nước uống, thu gom và xử lý trứng. Hệ thống thông hơi của Hytem có khả năng xử lý thông minh sự khác biệt về khí hậu giữa mùa đông và mùa hè; Dây chuyền xử lý và đóng gói trứng tự động của Nabel (Nhật Bản) loại bỏ các yếu tố vật lý, hóa học, các vi sinh vật và vi khuẩn (như salmonella) trên bề mặt vỏ, dò ra vỏ trứng bất thường, nhiễm bẩn, dính thịt hay máu, dò tìm bụi bẩn và trứng nứt, chỉ những quả trứng đạt tiêu chuẩn mới được chuyển sang đóng gói để xuất ra thị trường.
Môi trường Nhà máy sản xuất trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ luôn được giữ sạch sẽ, đảm bảo cách ly và an toàn sinh học tuyệt đối.
Các phương tiện chuyên dụng, hay công nhân vào nhà máy làm việc đều phải tuân thủ quy trình khử trùng cách ly nghiêm ngặt. Rửa tay bằng cồn sinh học. Bước qua khay sát trùng để loại bỏ các vi khuẩn có thể bám theo giày. Đi qua nhà tắm nước khử trùng. Thay trang phục chuyên dụng. Chỉ những người mặc trang phục chuyên dụng đã được chuẩn bị sẵn mới được vào trong nhà máy.
Từ phân khu này đi qua phân khu khác, quy trình khử trùng này tiếp tục được lặp lại. Toàn bộ phân gà của Nhà máy được thu gom và xử lý theo phương pháp lên men vi sinh, với dây chuyền công nghệ được nhập khẩu từ hãng Chubu Ecotec (Nhật Bản), tạo ra sản phẩm phân bón hữu cơ sạch với công suất 7.000 tấn/năm.
Bằng hệ thống xử lý chất thải và hệ thống silo ủ phân gà tươi thành phân bón vi sinh của Chubu Ecotec, Nhà máy sản xuất trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ đã thực sự mang lại hiệu quả bảo vệ môi trường và công nghệ xanh hóa hàng đầu thế giới đến cho nền nông nghiệp Việt Nam.
Toàn bộ quy trình sản xuất hoàn toàn tự động và khép kín, kiểm soát và cách ly tối đa với môi trường bên ngoài
Tự hào là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam kiểm soát an toàn sinh học trong toàn bộ quy trình sản xuất trứng
Toàn bộ quy trình sản xuất của Nhà máy Trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ hoàn toàn tự động và khép kín, kiểm soát và cách ly tối đa với môi trường bên ngoài, đảm bảo an toàn sinh học, an toàn vệ sinh thực phẩm luôn ở mức cao nhất.
Đây là lần đầu tiên, một công ty 100% vốn Việt nam đầu tư vào một hệ thống công nghệ cao hàng đầu thế giới, khép kín từ sản xuất nguyên liệu thức ăn đầu vào, chăn nuôi gà hậu bị, chăm sóc gà thương phẩm, xử lý môi trường, đến thu gom, xử lý và đóng gói trứng thành phẩm ở quy mô lớn và có thể truy xuất nguồn gốc rõ ràng trong từng khâu sản xuất.
Thời gian cung ứng sản phẩm từ khi gà đẻ tới hệ thống cửa hàng, siêu thị chỉ trong vòng 24 giờ.
Dự án Nhà máy Sản xuất Trứng gà sạch do Công ty CP ĐTK làm chủ đầu tư. Sau hơn 10 tháng khẩn trương xây dựng và hoàn thiện, ngày 21/11/2016 vừa qua, Nhà máy SX Trứng gà sạch ĐTK Phú Thọ đã chính thức chào đón lô gà 1 ngày tuổi đầu tiên, chính thức đưa khu gà hậu bị đi vào hoạt động. Tại đây, những đàn gà được chăm sóc và nuôi dưỡng đặc biệt, trong điều kiện lý tưởng, cách ly với môi trường bên ngoài, kiểm soát tốt các vấn đề an toàn sinh học.
Sau 16 tuần kể từ thời điểm trên, giữa tháng 03/2017, đàn gà đầu tiên sẽ được chuyển sang khu gà đẻ để sản xuất trứng. Và trong tháng 04/2017, nhà máy sẽ cung cấp những quả trứng gà đầu tiên ra thị trường.
ĐTK là doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam có gần 30 năm gắn bó và đồng hành cùng nhà nông (từ năm 1988) với lĩnh vực khởi nghiệp là kinh doanh thuốc thú y, khi ngành chăn nuôi còn chưa phát triển.
Với những nỗ lực không ngừng vươn lên, đến nay ĐTK sở hữu 08 đơn vị thành viên hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, mỗi đơn vị đóng vai trò là một mắt xích quan trọng không thể tách rời trong chuỗi sản xuất chăn nuôi khép kín của mình.
Từ năm 2013, ĐTK vinh dự được nằm trong Top đầu 500 Doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam. doanh thu trung bình đạt hơn 5.000 tỷ đồng và mảng xuất khẩu nông sản liên tục nằm trong Top 5 đơn vị xuất khẩu cà phê lớn nhất tại Việt Nam.
 
ĐTK tổng hợp theo báo Diễn đàn dân trí Việt Nam
Ðọc thêm..
Kỹ thuật chăn nuôi và chăm sóc lợn mang thai không phải là việc làm đơn giản bởi thời kỳ này rất quan trọng quyết định tới sự thành quả của người chăn nuôi.

Trong giai đoạn lợn mang thai nếu nguồn dinh dưỡng không đủ hay chất lượng dinh dưỡng kém đều ảnh hưởng tới quá trình mang thai cũng như lợn con. Do đó kỹ thuật nuôi và chăm sóc lợn trong thời kỳ mang thai đòi hỏi người chăn nuôi phải thật sự tập trung và mất nhiều thời gian chăm sóc.
Chọn giống
Để lợn nái sinh trưởng và đẻ nhiều thì việc chọn giống rất quan trọng. Trước hết cần chọn 2 khía cạnh đó là nguồn gốc lợn cái được sinh ra từ những lợn mẹ có năng suất cao, đẻ sai con, nuôi con khéo, có lý lịch rõ ràng, xuất thân nơi không có dịch. Chọn bản thân con cái đó cần các yêu cầu mông nở, thân dài, 4 chân chắc, dáng đi nhanh nhẹn, lông thưa, mắt sáng. Từ 12 vú trở lên, các vú nổi rõ cách đều nhau, không có vú kẹ, vú lép. Quá trình trên lựa chọn từ 2,5 – 3 tháng tuổi.
Để lợn nái sinh trưởng và đẻ nhiều thì việc chọn giống rất quan trọng. Ảnh minh họa 
Nhận định thời kỳ lợn mang thai
Nhìn bên ngoài lợn nái có thai thường xuất hiện trạng thái phù thũng ở tứ chi, thành bụng. Tuyến vú phát triển to lên, bè ra. Lợn yên tĩnh ăn uống tốt và ngủ ngon, bụng phát triển to lên.  Tình trạng lợn không có biểu hiện động dục lại sau 21 ngày kể từ lúc phối.
Thời gian mang kéo dài từ 3 tháng + 3 tuần + 3 ngày ( trung bình từ 114 – 116 ngày). Trong thời kỳ mang thai có thể chia ra làm 2 giai đoạn. Giai đoạn chửa kỳ 1 từ 1-84 ngày mang thai. Nhưng nếu nái sinh sớm từ ngày 108 trở lại thường rất khó nuôi con, dù có sữa nhưng con yếu ớt, sức bú mẹ kém và khả năng đề kháng kém nên tỷ lệ nuôi sống thấp.
Nhiệt độ môi trường
Nếu nhiệt độ cao ảnh hưởng đến sức sống lợn nái, thai chết nhiều. Nhiệt độ cao làm cho lợn kém ăn, mệt mỏi, thở nhiều, hay sẩy và chết phôi, chết thai, sẩy thai. Do đó, nhiệt độ phù hợp lợn nái từ 17 – 21oC. Trong quá trình nuôi nếu thấy nóng cần tạo thông thoáng chuồng nuôi. Phun nước nền chuồng. Làm nước nhỏ giọt. Cũng trong giai đoạn này lợn nái cần được nghỉ ngơi yên tĩnh, tránh kích thích va chạm mạnh. Tránh tiếng động làm lợn nái hoảng sợ, không nên để cắn nhau, nhảy phá chuồng.
Chuồng nuôi
Chuồng nền hoặc sàn cách đất, đảm bảo chuồng nuôi ấm áp về mùa Đông, thoáng mát về mùa Hè. Sử dụng điều hoà bằng hơi nước. Chuồng cần ánh sáng dọi vào buổi sáng, tránh mưa từ phía Tây và gió bấc lùa vào mùa rét.
Kỹ thuật nuôi và chăm sóc lợn mang thai
Kỹ thuật nuôi và chăm sóc heo nái mang thai là thời kỳ rất quan trọng của quá trình chăn nuôi nhằm đảm bảo cho bào thai con phát triển bình thường, lợn nái đẻ được nhiều con, heo con khỏe mạnh, có trọng lượng sơ sinh cao. Vì vậy, để lợn con đạt khối lượng sơ sinh cao cần tăng khoảng 25-30% lượng thức ăn cho lợn nái chửa. Thông thường, lợn nái chửa cần 14% tỉ lệ protein thô, 0,9% tỉ lệ canxi và 0,45% tỉ lệ phốt pho trong khẩu phần ăn. Mùa hè có thể giảm mức ăn nhưng phải tăng lượng protein từ 14% lên 16%, nâng mức khoáng và vitamin trong khẩu phần.
Kỹ thuật nuôi và chăm sóc heo nái mang thai không hề đơn giản. Ảnh minh họa 
Người chăn nuôi cũng cần lưu ý, bã rượu và thức ăn ủ men có chứa chất kích thích, dễ gây sẩy thai. Vì vậy chỉ nên cho heo ăn dưới 15% trong khẩu phần. Ngoài ra, trong thời kỳ mang thai, lợn nái cần lượng chất khoáng nhiều hơn để phát triển hệ xương của bào thai. Khi khẩu phần ăn của lợn mẹ không đủ, sẽ phải huy động nhiều chất khoáng từ cơ thể lợn mẹ (đặc biệt là canxi và phốt pho từ xương) để nuôi thai. Vì thế, lợn mẹ bị thiếu chất khoáng dễ dẫn tới bại liệt. Tuy nhiên cũng cần tránh vỗ béo lợn nái quá mức trong giai đoạn gần sinh.
Cụ thể ở thời kỳ mang thai đầu tiên nên cho ăn từ 1,8 – 2 kg/con/ngày. Sang giai đoạn thứ 2 khi lợn nái mang thai khoảng 85 – 110 ngày, cho ăn từ 2 – 2,5 kg/con/ngày. Đến giai đoạn từ 111 – 113 ngày, cho ăn 2 kg/con/ngày. Và trước khi đẻ 1 ngày – không nên cho ăn.
Trong quá trình chăm sóc cần tắm chải cho lợn nái, tăng cường xoa bóp bầu vú để mạch máu dễ lưu thông, phát triển tuyến sữa, lợn dễ quen người và dễ tiếp xúc khi đỡ đẻ, không tắm chải 5 ngày trước khi đẻ. Bạn cũng cần tắm ghẻ cho lợn 10 -14 ngày trước ngày dự đẻ. Đây là yêu cầu bắt buộc để đề phòng lợn mẹ bị ghẻ lây truyền sang con. Trước ngày dự đẻ 14 ngày tắm ghẻ lần 1 và sau đó 7 ngày tắm ghẻ lần 2.
Đặc biệt, cần tiêm phòng định kỳ 1 năm 2 lần (tháng 5 và tháng 10 hoặc trước khi phối giống) các loại vắc xin dịch tả, tụ dấu, lép to, LMLM. Không tiêm phòng cho heo nái những loại vắc xin trên từ giai đoạn phối giống đến 30 ngày sau phối giống (trừ trường hợp có dịch bệnh xảy ra).
Xử lý khi lợn chửa đẻ quá ngày
Thời gian mang thai của lợn biến động từ 102-128 ngày. Vượt quá giới hạn trên được gọi là lợn chửa đẻ quá ngày và tất cả những trường hợp có chửa vượt quá giới hạn đó đều cần phải can thiệp. Quan sát thấy gần đến ngày đẻ lợn vẫn sa nầm sữa nhưng đến ngày đẻ lợn không có biểu hiện cắn ổ. Lợn ăn uống tốt, sau đó nầm sữa teo đi, âm hộ trở lại trạng thái bình thường.
Nếu lợn có biểu hiện quá ngày chưa đẻ cần phải can thiệp ngay. Ảnh minh họa 
Đầu tiên cố định lợn nái, dùng ván hoặc cửa gỗ ép lợn vào một góc chuồng. Dùng dây buộc mõn trên của lợn sauddos kéo treo dây lên hoặc vật lợn nằm ngửa để can thiệp. Dùng ống dẫn tin quản đưa qua cổ tử cung. Thụt từ 3-5 lít nước xà phòng 0,1-0,2% vào tử cung. Khi đã bom hết số nước xà phòng ấn định, dùng tay vỗ mạnh vào mông lợn, rút tinh quản ra và thả lợn.
Đỡ đẻ 12-48 giờ sau đó, lợn có biểu hiện cắn tổ đẻ. Đẻ bình thường không cần can thiệp trong quá trình đẻ. Nếu thai bị khô cứng nằm ở tử cung, nếu tử cung đã mở ta thụt tiếp nước xà phòng để tử cung không bó chặt lấy thai và làm trơn đường sinh dục sau đó lôi thai ra. Nếu 2 ngày chưa thấy lợn có biểu hiện có thể tiêm thuốc gây sẩy thai như: Oestrogenum folliculinum với liều 2.000-4.000 UI hoặc dùng Hexoestrolum với liều 4.000-6.000 UI. Các trường hợp thai bị mềm nhũn, thai bị thối rữa đều thụt được nước xà phòng và nhanh chóng lấy hết thai ra. Sau đó tử cung đã mở có thể tiêm bắp Oxytoxin với liều lượng 10-40UI nhằm tăng cường co bóp của tử cung tống thai đã chết ra ngoài.
Nhận biết heo nái sắp sanh
Căn cứ vào ngày phối giống có chửa để dự tính ngày đẻ dự kiến. Những biểu hiện của lợn nái sắp sanh như thường đi lại nhiều, bồn chồn đái dắt (tiểu mót), đi phân lắt nhắt nhiều chỗ. Biểu hiện hay cào ổ, cào chân vào nền chuồng, cắn song chuồng hay máng ăn...
Lợn nái nuôi con phải sạch sẽ, được vệ sinh thường xuyên, đảm bảo thoáng, sạch khô và ấm cho lợn con. Lợn nái trong thời gian nuôi con không nên tắm để hạn chế ẩm độ chuồng nuôi, tuy nhiên có thể chải cho lợn mẹ. Việc sử dụng chuồng lồng cho lợn, có hệ thống làm mát và thông gió tạo điều kiện rất thích hợp để chăn nuôi lợn nái sinh sản năng suất cao.
 
ĐTK tổng hợp theo vietq

Kỹ thuật chăn nuôi và chăm sóc lợn nái mang thai khỏe mạnh

Kỹ thuật chăn nuôi và chăm sóc lợn mang thai không phải là việc làm đơn giản bởi thời kỳ này rất quan trọng quyết định tới sự thành quả của người chăn nuôi.

Trong giai đoạn lợn mang thai nếu nguồn dinh dưỡng không đủ hay chất lượng dinh dưỡng kém đều ảnh hưởng tới quá trình mang thai cũng như lợn con. Do đó kỹ thuật nuôi và chăm sóc lợn trong thời kỳ mang thai đòi hỏi người chăn nuôi phải thật sự tập trung và mất nhiều thời gian chăm sóc.
Chọn giống
Để lợn nái sinh trưởng và đẻ nhiều thì việc chọn giống rất quan trọng. Trước hết cần chọn 2 khía cạnh đó là nguồn gốc lợn cái được sinh ra từ những lợn mẹ có năng suất cao, đẻ sai con, nuôi con khéo, có lý lịch rõ ràng, xuất thân nơi không có dịch. Chọn bản thân con cái đó cần các yêu cầu mông nở, thân dài, 4 chân chắc, dáng đi nhanh nhẹn, lông thưa, mắt sáng. Từ 12 vú trở lên, các vú nổi rõ cách đều nhau, không có vú kẹ, vú lép. Quá trình trên lựa chọn từ 2,5 – 3 tháng tuổi.
Để lợn nái sinh trưởng và đẻ nhiều thì việc chọn giống rất quan trọng. Ảnh minh họa 
Nhận định thời kỳ lợn mang thai
Nhìn bên ngoài lợn nái có thai thường xuất hiện trạng thái phù thũng ở tứ chi, thành bụng. Tuyến vú phát triển to lên, bè ra. Lợn yên tĩnh ăn uống tốt và ngủ ngon, bụng phát triển to lên.  Tình trạng lợn không có biểu hiện động dục lại sau 21 ngày kể từ lúc phối.
Thời gian mang kéo dài từ 3 tháng + 3 tuần + 3 ngày ( trung bình từ 114 – 116 ngày). Trong thời kỳ mang thai có thể chia ra làm 2 giai đoạn. Giai đoạn chửa kỳ 1 từ 1-84 ngày mang thai. Nhưng nếu nái sinh sớm từ ngày 108 trở lại thường rất khó nuôi con, dù có sữa nhưng con yếu ớt, sức bú mẹ kém và khả năng đề kháng kém nên tỷ lệ nuôi sống thấp.
Nhiệt độ môi trường
Nếu nhiệt độ cao ảnh hưởng đến sức sống lợn nái, thai chết nhiều. Nhiệt độ cao làm cho lợn kém ăn, mệt mỏi, thở nhiều, hay sẩy và chết phôi, chết thai, sẩy thai. Do đó, nhiệt độ phù hợp lợn nái từ 17 – 21oC. Trong quá trình nuôi nếu thấy nóng cần tạo thông thoáng chuồng nuôi. Phun nước nền chuồng. Làm nước nhỏ giọt. Cũng trong giai đoạn này lợn nái cần được nghỉ ngơi yên tĩnh, tránh kích thích va chạm mạnh. Tránh tiếng động làm lợn nái hoảng sợ, không nên để cắn nhau, nhảy phá chuồng.
Chuồng nuôi
Chuồng nền hoặc sàn cách đất, đảm bảo chuồng nuôi ấm áp về mùa Đông, thoáng mát về mùa Hè. Sử dụng điều hoà bằng hơi nước. Chuồng cần ánh sáng dọi vào buổi sáng, tránh mưa từ phía Tây và gió bấc lùa vào mùa rét.
Kỹ thuật nuôi và chăm sóc lợn mang thai
Kỹ thuật nuôi và chăm sóc heo nái mang thai là thời kỳ rất quan trọng của quá trình chăn nuôi nhằm đảm bảo cho bào thai con phát triển bình thường, lợn nái đẻ được nhiều con, heo con khỏe mạnh, có trọng lượng sơ sinh cao. Vì vậy, để lợn con đạt khối lượng sơ sinh cao cần tăng khoảng 25-30% lượng thức ăn cho lợn nái chửa. Thông thường, lợn nái chửa cần 14% tỉ lệ protein thô, 0,9% tỉ lệ canxi và 0,45% tỉ lệ phốt pho trong khẩu phần ăn. Mùa hè có thể giảm mức ăn nhưng phải tăng lượng protein từ 14% lên 16%, nâng mức khoáng và vitamin trong khẩu phần.
Kỹ thuật nuôi và chăm sóc heo nái mang thai không hề đơn giản. Ảnh minh họa 
Người chăn nuôi cũng cần lưu ý, bã rượu và thức ăn ủ men có chứa chất kích thích, dễ gây sẩy thai. Vì vậy chỉ nên cho heo ăn dưới 15% trong khẩu phần. Ngoài ra, trong thời kỳ mang thai, lợn nái cần lượng chất khoáng nhiều hơn để phát triển hệ xương của bào thai. Khi khẩu phần ăn của lợn mẹ không đủ, sẽ phải huy động nhiều chất khoáng từ cơ thể lợn mẹ (đặc biệt là canxi và phốt pho từ xương) để nuôi thai. Vì thế, lợn mẹ bị thiếu chất khoáng dễ dẫn tới bại liệt. Tuy nhiên cũng cần tránh vỗ béo lợn nái quá mức trong giai đoạn gần sinh.
Cụ thể ở thời kỳ mang thai đầu tiên nên cho ăn từ 1,8 – 2 kg/con/ngày. Sang giai đoạn thứ 2 khi lợn nái mang thai khoảng 85 – 110 ngày, cho ăn từ 2 – 2,5 kg/con/ngày. Đến giai đoạn từ 111 – 113 ngày, cho ăn 2 kg/con/ngày. Và trước khi đẻ 1 ngày – không nên cho ăn.
Trong quá trình chăm sóc cần tắm chải cho lợn nái, tăng cường xoa bóp bầu vú để mạch máu dễ lưu thông, phát triển tuyến sữa, lợn dễ quen người và dễ tiếp xúc khi đỡ đẻ, không tắm chải 5 ngày trước khi đẻ. Bạn cũng cần tắm ghẻ cho lợn 10 -14 ngày trước ngày dự đẻ. Đây là yêu cầu bắt buộc để đề phòng lợn mẹ bị ghẻ lây truyền sang con. Trước ngày dự đẻ 14 ngày tắm ghẻ lần 1 và sau đó 7 ngày tắm ghẻ lần 2.
Đặc biệt, cần tiêm phòng định kỳ 1 năm 2 lần (tháng 5 và tháng 10 hoặc trước khi phối giống) các loại vắc xin dịch tả, tụ dấu, lép to, LMLM. Không tiêm phòng cho heo nái những loại vắc xin trên từ giai đoạn phối giống đến 30 ngày sau phối giống (trừ trường hợp có dịch bệnh xảy ra).
Xử lý khi lợn chửa đẻ quá ngày
Thời gian mang thai của lợn biến động từ 102-128 ngày. Vượt quá giới hạn trên được gọi là lợn chửa đẻ quá ngày và tất cả những trường hợp có chửa vượt quá giới hạn đó đều cần phải can thiệp. Quan sát thấy gần đến ngày đẻ lợn vẫn sa nầm sữa nhưng đến ngày đẻ lợn không có biểu hiện cắn ổ. Lợn ăn uống tốt, sau đó nầm sữa teo đi, âm hộ trở lại trạng thái bình thường.
Nếu lợn có biểu hiện quá ngày chưa đẻ cần phải can thiệp ngay. Ảnh minh họa 
Đầu tiên cố định lợn nái, dùng ván hoặc cửa gỗ ép lợn vào một góc chuồng. Dùng dây buộc mõn trên của lợn sauddos kéo treo dây lên hoặc vật lợn nằm ngửa để can thiệp. Dùng ống dẫn tin quản đưa qua cổ tử cung. Thụt từ 3-5 lít nước xà phòng 0,1-0,2% vào tử cung. Khi đã bom hết số nước xà phòng ấn định, dùng tay vỗ mạnh vào mông lợn, rút tinh quản ra và thả lợn.
Đỡ đẻ 12-48 giờ sau đó, lợn có biểu hiện cắn tổ đẻ. Đẻ bình thường không cần can thiệp trong quá trình đẻ. Nếu thai bị khô cứng nằm ở tử cung, nếu tử cung đã mở ta thụt tiếp nước xà phòng để tử cung không bó chặt lấy thai và làm trơn đường sinh dục sau đó lôi thai ra. Nếu 2 ngày chưa thấy lợn có biểu hiện có thể tiêm thuốc gây sẩy thai như: Oestrogenum folliculinum với liều 2.000-4.000 UI hoặc dùng Hexoestrolum với liều 4.000-6.000 UI. Các trường hợp thai bị mềm nhũn, thai bị thối rữa đều thụt được nước xà phòng và nhanh chóng lấy hết thai ra. Sau đó tử cung đã mở có thể tiêm bắp Oxytoxin với liều lượng 10-40UI nhằm tăng cường co bóp của tử cung tống thai đã chết ra ngoài.
Nhận biết heo nái sắp sanh
Căn cứ vào ngày phối giống có chửa để dự tính ngày đẻ dự kiến. Những biểu hiện của lợn nái sắp sanh như thường đi lại nhiều, bồn chồn đái dắt (tiểu mót), đi phân lắt nhắt nhiều chỗ. Biểu hiện hay cào ổ, cào chân vào nền chuồng, cắn song chuồng hay máng ăn...
Lợn nái nuôi con phải sạch sẽ, được vệ sinh thường xuyên, đảm bảo thoáng, sạch khô và ấm cho lợn con. Lợn nái trong thời gian nuôi con không nên tắm để hạn chế ẩm độ chuồng nuôi, tuy nhiên có thể chải cho lợn mẹ. Việc sử dụng chuồng lồng cho lợn, có hệ thống làm mát và thông gió tạo điều kiện rất thích hợp để chăn nuôi lợn nái sinh sản năng suất cao.
 
ĐTK tổng hợp theo vietq
Ðọc thêm..
Dù đang vào vụ thu hoạch nhưng giá tiêu được thương lái thu mua tại các tại các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Bà Rịa-Vũng Tàu lại giảm mạnh.

Hiện giá tiêu trong nước đang ở mức trên dưới 120.000 đồng/kg. Như vậy nếu so với cùng kỳ năm ngoái, giá tiêu năm nay giảm 20.000-30.000 đồng/kg.
Một số ý kiến cho rằng giá tiêu giảm mạnh là do thương lái trong nước bắt tay thương lái Trung Quốc đầu cơ ép giá nông dân để đẩy giá tiêu xuống thấp, sau đó mua vào găm hàng đợi giá lên bán ra.
Tuy nhiên, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, khẳng định: “Không có hiện tượng đó. Bởi người nông dân đủ thông tin thị trường để biết. Hơn nữa với tình hình hiện nay có thể nói là không ai dám đầu cơ”.
Ông Nam nhận định giá tiêu hiện nay thấp so với các vụ trước do nguồn cung vượt cầu. Cụ thể sản lượng hồ tiêu năm sau cao hơn năm trước do người dân đổ xô mở rộng, trồng mới khi thấy lợi nhuận từ cây tiêu cao hơn so với trồng các cây trồng khác.
Hơn nữa Việt Nam là nước xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới, khi chiếm 50% lượng hồ tiêu thương mại toàn cầu. Do vậy, chỉ cần Việt Nam tăng sản lượng, ngay sau đó, giá hồ tiêu trên thị trường thế giới sẽ có xu hướng giảm.
Ngoài yếu tố trên thì ông Nam tiết lộ nhiều thương nhân nước ngoài dựa vào thông tin không rõ ràng tồn kho tiêu một số nhà nhập khẩu trên thế giới còn nhiều nên đưa ra giá mua thấp, tác động tiêu cực đến thị trường hồ tiêu Việt Nam.
“Tuy nhiên với mức giá tiêu hiện nay, người nông dân vẫn có lợi nhuận. So sánh với cây cà phê, cao su dù chi phí tương đương nhưng lợi nhuận từ cây tiêu mang lại cao hơn nhiều. Nhu cầu sử dụng tiêu làm gia vị thế giới vẫn tăng khi thị trường thức ăn nhanh tiếp tục phát triển mở rộng hơn thì giá tiêu sẽ vẫn ở mức cao” – ông Nam nói.
 
ĐTK tổng hợp theo vinanet

Bác bỏ thông tin thương lái Trung Quốc thao túng giá hạt tiêu

Dù đang vào vụ thu hoạch nhưng giá tiêu được thương lái thu mua tại các tại các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Bà Rịa-Vũng Tàu lại giảm mạnh.

Hiện giá tiêu trong nước đang ở mức trên dưới 120.000 đồng/kg. Như vậy nếu so với cùng kỳ năm ngoái, giá tiêu năm nay giảm 20.000-30.000 đồng/kg.
Một số ý kiến cho rằng giá tiêu giảm mạnh là do thương lái trong nước bắt tay thương lái Trung Quốc đầu cơ ép giá nông dân để đẩy giá tiêu xuống thấp, sau đó mua vào găm hàng đợi giá lên bán ra.
Tuy nhiên, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, khẳng định: “Không có hiện tượng đó. Bởi người nông dân đủ thông tin thị trường để biết. Hơn nữa với tình hình hiện nay có thể nói là không ai dám đầu cơ”.
Ông Nam nhận định giá tiêu hiện nay thấp so với các vụ trước do nguồn cung vượt cầu. Cụ thể sản lượng hồ tiêu năm sau cao hơn năm trước do người dân đổ xô mở rộng, trồng mới khi thấy lợi nhuận từ cây tiêu cao hơn so với trồng các cây trồng khác.
Hơn nữa Việt Nam là nước xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới, khi chiếm 50% lượng hồ tiêu thương mại toàn cầu. Do vậy, chỉ cần Việt Nam tăng sản lượng, ngay sau đó, giá hồ tiêu trên thị trường thế giới sẽ có xu hướng giảm.
Ngoài yếu tố trên thì ông Nam tiết lộ nhiều thương nhân nước ngoài dựa vào thông tin không rõ ràng tồn kho tiêu một số nhà nhập khẩu trên thế giới còn nhiều nên đưa ra giá mua thấp, tác động tiêu cực đến thị trường hồ tiêu Việt Nam.
“Tuy nhiên với mức giá tiêu hiện nay, người nông dân vẫn có lợi nhuận. So sánh với cây cà phê, cao su dù chi phí tương đương nhưng lợi nhuận từ cây tiêu mang lại cao hơn nhiều. Nhu cầu sử dụng tiêu làm gia vị thế giới vẫn tăng khi thị trường thức ăn nhanh tiếp tục phát triển mở rộng hơn thì giá tiêu sẽ vẫn ở mức cao” – ông Nam nói.
 
ĐTK tổng hợp theo vinanet
Ðọc thêm..
Năm 2017, ngành điều Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 3 tỷ USD, tăng 160 triệu USD so với năm 2016. Thế nhưng do lượng điều nguyên liệu ở trong nước sụt giảm về diện tích và sản lượng nên ngành này đang phải loay hoay tìm nguyên liệu điều nhập khẩu.


Điều là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhưng lại đang thiếu nguyên liệu.
Thiếu điều nguyên liệu
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2016 ngành điều xuất khẩu 347.000 tấn điều nhân, đạt kim ngạch 2,84 tỷ USD, tăng 5,6% về sản lượng và 18,4% về giá trị so với năm 2015. Đây là năm ngành điều xuất khẩu có giá trị lớn nhất từ trước đến nay. Thế nhưng do nguyên liệu trong nước không nhiều, năm qua phải nhập 1,1 triệu tấn điều thô.
Mục tiêu ngành điều năm nay xuất khẩu đạt trị giá 3 tỷ USD, tương đương với khoảng hơn 400.000 tấn điều nhân. Thế nhưng lượng điều nguyên liệu trong nước năm nay được đánh giá là khá khan hiếm. 
Theo đó, thời tiết năm 2016 không thuận lợi khiến khâu thu hoạch, xử lý và kỹ thuật bảo quản điều thô chưa tốt khiến lượng điều thô trong nước giảm.
Ngoài ra, thời tiết năm 2017 cũng được dự báo không thuận lợi cho cây điều phát triển; nắng nóng kết hợp với mưa kéo dài, mùa khô ngắn hơn những năm trước 2 tháng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, đậu trái ở cây điều, làm sản lượng điều trong năm nay rơi vào báo động, giảm khoảng 40%. Chất lượng hạt điều cũng theo đó giảm theo.
Theo tính toán trước đây, sản lượng điều Việt Nam trong năm 2017 sẽ đạt 550.000 tấn điều thô, nhưng do biến động thời tiết bất thường nên dự báo sản lượng chỉ đạt 300.000 tấn, thấp hơn năm 2016 hơn 150.000 tấn (thấp hơn dự kiến 250.000 tấn).
Một nguyên nhân khác khiến những người xuất khẩu điều phải đau đầu là diện tích điều trong nước ngày một giảm. Hiện diện tích điều ở các tỉnh Tây Nguyên như Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng đang giảm rất nhanh, chỉ còn gần 73.000ha, giảm gần 16.000ha so với năm 2015. Đắk Lắk là địa phương giảm nhiều nhất, từ 33.292ha năm 2015 nay chỉ còn 18.597ha; kế đến là tỉnh Đắk Nông từ gần 20.000ha nay giảm xuống còn 14.812ha… 
Diện tích điều giảm là do trước đây phần lớn diện tích điều được đồng bào các dân tộc sử dụng các giống thực sinh để trồng và qua nhiều năm điều đã già cỗi, thoái hóa, sâu bệnh hại phát triển mạnh, tỷ lệ đậu quả thấp nên năng suất ngày càng giảm. Thậm chí, một số vùng của Đắk Lắk như Ea Súp, Ea H’Leo 1ha điều chỉ cho thu hoạch chưa đến 1 tạ hạt. 
Giá hạt điều giảm cũng là nguyên nhân khiến diện tích điều giảm sút. Theo người trồng điều, giá hạt điều trên thị trường không ổn định, liên tục giảm chỉ còn 50.000-54.000 đồng/kg nên nhiều địa phương đồng bào dân tộc đã chặt bỏ cây điều chuyển diện tích đất sang trồng cà phê, tiêu hoặc các loại cây ngắn ngày khác như ngô lai, đậu đỗ. Đây là những loại cây mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cây điều.
Loay hoay tìm điều thô nhập khẩu
Do nguồn nguyên liệu điều trong nước khan hiếm, để đạt mục tiêu xuất khẩu 3 tỷ USD trong năm nay, ngành điều buộc phải nhập khẩu điều thô với số lượng lớn.
Theo đó, năm nay ngành điều phải nhập khẩu nhiều hơn so với năm trước khoảng 200.000 tấn điều, đạt 1,3 triệu tấn điều thô để phục vụ chế biến. Nguồn điều này đang được “ngắm đích” là ở Campuchia. Theo dự báo, sản lượng điều của Campuchia trong năm nay ước đạt 150.000 tấn, có thể đáp ứng sản lượng Việt Nam đang cần.
Được biết, chất lượng điều của Campuchia tương đương với chất lượng điều Việt Nam, các doanh nghiệp chế biến có thể thuận lợi hơn trong khâu chế biến và tránh thất thoát do hạt xấu.
Ngoài ra, đoạn đường vận chuyển nguyên liệu từ Campuchia về Việt Nam cũng khá thuận tiện, ít chi phí hơn so với việc nhập từ châu Phi. Tuy nhiên, trường hợp không nhập được điều từ Campuchia như tính toán thì sẽ đẩy ngành điều vào bất lợi, khó khăn tìm nguyên liệu.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, hạn chế của việc nhập khẩu điều thô là chất lượng hạt điều không được kiểm soát. Các thị trường nhập khẩu điều chế biến của Việt Nam chủ yếu là Mỹ (35%), Trung Quốc (18%), châu Âu, Anh (25%).
Việc không thể kiểm soát chất lượng điều thô nhập khẩu rất dễ bị những thị trường nhập khẩu điều khó tính như Mỹ, châu Âu “tẩy chay” hoặc gây khó khăn cho việc xuất khẩu điều Việt Nam.
Theo Tổng cục Thống kê, trong tháng 1/2017, ngành điều xuất khẩu đạt 18.000 tấn, với kim ngạch 164.000 USD, giảm 27,8% về lượng, giảm 12,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016. Việc đặt mục tiêu năm nay đạt giá trị xuất khẩu 3 tỷ USD khiến ngành điều Việt Nam còn nhiều việc phải làm.
 
ĐTK tổng hợp theo phapluatplus

Ngành điều còn nhiều việc phải làm để đạt mục tiêu xuất khẩu 3 tỷ USD

Năm 2017, ngành điều Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 3 tỷ USD, tăng 160 triệu USD so với năm 2016. Thế nhưng do lượng điều nguyên liệu ở trong nước sụt giảm về diện tích và sản lượng nên ngành này đang phải loay hoay tìm nguyên liệu điều nhập khẩu.


Điều là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhưng lại đang thiếu nguyên liệu.
Thiếu điều nguyên liệu
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2016 ngành điều xuất khẩu 347.000 tấn điều nhân, đạt kim ngạch 2,84 tỷ USD, tăng 5,6% về sản lượng và 18,4% về giá trị so với năm 2015. Đây là năm ngành điều xuất khẩu có giá trị lớn nhất từ trước đến nay. Thế nhưng do nguyên liệu trong nước không nhiều, năm qua phải nhập 1,1 triệu tấn điều thô.
Mục tiêu ngành điều năm nay xuất khẩu đạt trị giá 3 tỷ USD, tương đương với khoảng hơn 400.000 tấn điều nhân. Thế nhưng lượng điều nguyên liệu trong nước năm nay được đánh giá là khá khan hiếm. 
Theo đó, thời tiết năm 2016 không thuận lợi khiến khâu thu hoạch, xử lý và kỹ thuật bảo quản điều thô chưa tốt khiến lượng điều thô trong nước giảm.
Ngoài ra, thời tiết năm 2017 cũng được dự báo không thuận lợi cho cây điều phát triển; nắng nóng kết hợp với mưa kéo dài, mùa khô ngắn hơn những năm trước 2 tháng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, đậu trái ở cây điều, làm sản lượng điều trong năm nay rơi vào báo động, giảm khoảng 40%. Chất lượng hạt điều cũng theo đó giảm theo.
Theo tính toán trước đây, sản lượng điều Việt Nam trong năm 2017 sẽ đạt 550.000 tấn điều thô, nhưng do biến động thời tiết bất thường nên dự báo sản lượng chỉ đạt 300.000 tấn, thấp hơn năm 2016 hơn 150.000 tấn (thấp hơn dự kiến 250.000 tấn).
Một nguyên nhân khác khiến những người xuất khẩu điều phải đau đầu là diện tích điều trong nước ngày một giảm. Hiện diện tích điều ở các tỉnh Tây Nguyên như Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng đang giảm rất nhanh, chỉ còn gần 73.000ha, giảm gần 16.000ha so với năm 2015. Đắk Lắk là địa phương giảm nhiều nhất, từ 33.292ha năm 2015 nay chỉ còn 18.597ha; kế đến là tỉnh Đắk Nông từ gần 20.000ha nay giảm xuống còn 14.812ha… 
Diện tích điều giảm là do trước đây phần lớn diện tích điều được đồng bào các dân tộc sử dụng các giống thực sinh để trồng và qua nhiều năm điều đã già cỗi, thoái hóa, sâu bệnh hại phát triển mạnh, tỷ lệ đậu quả thấp nên năng suất ngày càng giảm. Thậm chí, một số vùng của Đắk Lắk như Ea Súp, Ea H’Leo 1ha điều chỉ cho thu hoạch chưa đến 1 tạ hạt. 
Giá hạt điều giảm cũng là nguyên nhân khiến diện tích điều giảm sút. Theo người trồng điều, giá hạt điều trên thị trường không ổn định, liên tục giảm chỉ còn 50.000-54.000 đồng/kg nên nhiều địa phương đồng bào dân tộc đã chặt bỏ cây điều chuyển diện tích đất sang trồng cà phê, tiêu hoặc các loại cây ngắn ngày khác như ngô lai, đậu đỗ. Đây là những loại cây mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cây điều.
Loay hoay tìm điều thô nhập khẩu
Do nguồn nguyên liệu điều trong nước khan hiếm, để đạt mục tiêu xuất khẩu 3 tỷ USD trong năm nay, ngành điều buộc phải nhập khẩu điều thô với số lượng lớn.
Theo đó, năm nay ngành điều phải nhập khẩu nhiều hơn so với năm trước khoảng 200.000 tấn điều, đạt 1,3 triệu tấn điều thô để phục vụ chế biến. Nguồn điều này đang được “ngắm đích” là ở Campuchia. Theo dự báo, sản lượng điều của Campuchia trong năm nay ước đạt 150.000 tấn, có thể đáp ứng sản lượng Việt Nam đang cần.
Được biết, chất lượng điều của Campuchia tương đương với chất lượng điều Việt Nam, các doanh nghiệp chế biến có thể thuận lợi hơn trong khâu chế biến và tránh thất thoát do hạt xấu.
Ngoài ra, đoạn đường vận chuyển nguyên liệu từ Campuchia về Việt Nam cũng khá thuận tiện, ít chi phí hơn so với việc nhập từ châu Phi. Tuy nhiên, trường hợp không nhập được điều từ Campuchia như tính toán thì sẽ đẩy ngành điều vào bất lợi, khó khăn tìm nguyên liệu.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, hạn chế của việc nhập khẩu điều thô là chất lượng hạt điều không được kiểm soát. Các thị trường nhập khẩu điều chế biến của Việt Nam chủ yếu là Mỹ (35%), Trung Quốc (18%), châu Âu, Anh (25%).
Việc không thể kiểm soát chất lượng điều thô nhập khẩu rất dễ bị những thị trường nhập khẩu điều khó tính như Mỹ, châu Âu “tẩy chay” hoặc gây khó khăn cho việc xuất khẩu điều Việt Nam.
Theo Tổng cục Thống kê, trong tháng 1/2017, ngành điều xuất khẩu đạt 18.000 tấn, với kim ngạch 164.000 USD, giảm 27,8% về lượng, giảm 12,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016. Việc đặt mục tiêu năm nay đạt giá trị xuất khẩu 3 tỷ USD khiến ngành điều Việt Nam còn nhiều việc phải làm.
 
ĐTK tổng hợp theo phapluatplus
Ðọc thêm..
Trước diễn biến bất thường của dịch cúm gia cầm, ngày 21/2, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có công văn hoả tốc gửi UBND các tỉnh, thành phố triển khai phát động "Tháng vệ sinh, tiêu độc khử trùng môi trường đợt 1 năm 2017" nhằm chủ động tiêu diệt mầm bệnh.

Thời gian thực hiện từ ngày 22/2/2017 đến 21/3/2017. 
Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo các đơn vị liên quan bố trí hố sát trùng tại khu vực đường mòn, lối mở biên giới trên địa bàn quản lý, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc. 
Bên cạnh đó, những trang trại chăn nuôi tập trung, cơ sở giết mổ tập trung, cơ sở ấp trứng gia cầm tự lo vật tư, kinh phí, tổ chức thực hiện theo sự giám sát của chính quyền địa phương và chuyên môn thú y. 
Tại các cửa khẩu biên giới, cơ quan kiểm dịch động vật phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ tại cửa khẩu tham mưu cho Ban quản lý cửa khẩu bố trí hố sát trùng và thực hiện vệ sinh, tiêu độc, khử trùng các phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật đi qua cửa khẩu.
Chính quyền cấp xã tổ chức đội phun thuốc sát trùng cho khu vực chăn nuôi hộ gia đình, chợ buôn bán động vật sống ở nông thôn, nơi công cộng; đường làng, ngõ xóm, khu nhốt động vật, sản phẩm động vật, nhập lậu...; việc phun khử trùng chỉ được thực hiện sau khi đã được vệ sinh cơ giới như quét dọn, cọ, rửa sạch... 
Theo thông báo của Tổ chức Thú y thế giới, trong tháng 1/2017 đã xảy ra nhiều ổ dịch cúm gia cầm động lực cao như cúm gia cầm A/H5N2, A/H5N8 và A/H5N6 tại Trung Quốc. 
Người dân xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi (Bạc Liêu) phun thuốc sát trùng khu vực chuồng trại chăn nuôi.
Như vậy, nguy cơ vi rút cúm gia cầm A/H7N9 và các chủng vi rút cúm động lực cao khác (A/H5N2, A/H5N8) chưa có ở Việt Nam có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước là rất cao, thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. 
Mặt khác, kết quả giám sát lưu hành vi rút cúm gia cầm tại các chợ gia cầm sống do Cục Thú y phối hợp với Tổ chức Nông nghiệp - Lương thực- Liên Hiệp Quốc thực hiện trong năm 2016 tại 32 tỉnh, thành phố cho thấy, tỷ lệ phát hiện vi rút cúm trên gà đối với A/H5N6 là 1,89% và A/H5N1 là 0,94%; trên vịt đối với A/H5N6 là 6,7% và A/H5N1 là 1,63%. 
Tỷ lệ phát hiện vi rút cúm trong các mẫu môi trường đối với A/H5N6 là 2,9% và A/H5N1 là 2,07%. Đây chính là nguồn lây lan vi rút cúm thông qua các hoạt động mua bán, vận chuyển gia cầm. 
Ngoài ra, vi rút cúm A/H5N6, A/H5N1 còn tồn lưu trong môi trường, đàn chim hoang, chim di trú cũng như việc nhập lậu gia cầm qua biên giới gây nguy cơ phát sinh dịch bệnh. 
Do vậy, biện pháp ngăn chặn triệt để gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu và tiêu độc, khử trùng để chủ động tiêu diệt vi rút cúm gia cầm là những biện pháp được ngành nông nghiệp ưu tiên hiện nay.
 
ĐTK tổng hợp theo baotintuc

Triển khai tháng vệ sinh, tiêu độc khử trùng đợt 1 năm 2017

Trước diễn biến bất thường của dịch cúm gia cầm, ngày 21/2, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có công văn hoả tốc gửi UBND các tỉnh, thành phố triển khai phát động "Tháng vệ sinh, tiêu độc khử trùng môi trường đợt 1 năm 2017" nhằm chủ động tiêu diệt mầm bệnh.

Thời gian thực hiện từ ngày 22/2/2017 đến 21/3/2017. 
Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo các đơn vị liên quan bố trí hố sát trùng tại khu vực đường mòn, lối mở biên giới trên địa bàn quản lý, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc. 
Bên cạnh đó, những trang trại chăn nuôi tập trung, cơ sở giết mổ tập trung, cơ sở ấp trứng gia cầm tự lo vật tư, kinh phí, tổ chức thực hiện theo sự giám sát của chính quyền địa phương và chuyên môn thú y. 
Tại các cửa khẩu biên giới, cơ quan kiểm dịch động vật phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ tại cửa khẩu tham mưu cho Ban quản lý cửa khẩu bố trí hố sát trùng và thực hiện vệ sinh, tiêu độc, khử trùng các phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật đi qua cửa khẩu.
Chính quyền cấp xã tổ chức đội phun thuốc sát trùng cho khu vực chăn nuôi hộ gia đình, chợ buôn bán động vật sống ở nông thôn, nơi công cộng; đường làng, ngõ xóm, khu nhốt động vật, sản phẩm động vật, nhập lậu...; việc phun khử trùng chỉ được thực hiện sau khi đã được vệ sinh cơ giới như quét dọn, cọ, rửa sạch... 
Theo thông báo của Tổ chức Thú y thế giới, trong tháng 1/2017 đã xảy ra nhiều ổ dịch cúm gia cầm động lực cao như cúm gia cầm A/H5N2, A/H5N8 và A/H5N6 tại Trung Quốc. 
Người dân xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi (Bạc Liêu) phun thuốc sát trùng khu vực chuồng trại chăn nuôi.
Như vậy, nguy cơ vi rút cúm gia cầm A/H7N9 và các chủng vi rút cúm động lực cao khác (A/H5N2, A/H5N8) chưa có ở Việt Nam có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước là rất cao, thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. 
Mặt khác, kết quả giám sát lưu hành vi rút cúm gia cầm tại các chợ gia cầm sống do Cục Thú y phối hợp với Tổ chức Nông nghiệp - Lương thực- Liên Hiệp Quốc thực hiện trong năm 2016 tại 32 tỉnh, thành phố cho thấy, tỷ lệ phát hiện vi rút cúm trên gà đối với A/H5N6 là 1,89% và A/H5N1 là 0,94%; trên vịt đối với A/H5N6 là 6,7% và A/H5N1 là 1,63%. 
Tỷ lệ phát hiện vi rút cúm trong các mẫu môi trường đối với A/H5N6 là 2,9% và A/H5N1 là 2,07%. Đây chính là nguồn lây lan vi rút cúm thông qua các hoạt động mua bán, vận chuyển gia cầm. 
Ngoài ra, vi rút cúm A/H5N6, A/H5N1 còn tồn lưu trong môi trường, đàn chim hoang, chim di trú cũng như việc nhập lậu gia cầm qua biên giới gây nguy cơ phát sinh dịch bệnh. 
Do vậy, biện pháp ngăn chặn triệt để gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu và tiêu độc, khử trùng để chủ động tiêu diệt vi rút cúm gia cầm là những biện pháp được ngành nông nghiệp ưu tiên hiện nay.
 
ĐTK tổng hợp theo baotintuc
Ðọc thêm..
Vi rút cúm gia cầm (CGC) A/H7N9 đang bùng phát mạnh ở Trung Quốc. Dù Việt Nam chưa xuất hiện chủng vi rút CGC A/H7N9 nhưng chủng vi rút CGC A/H5N1 vẫn xảy ra ở một số địa phương. Đây là thời điểm nông dân tập trung tái đàn chăn nuôi sau Tết Nguyên đán, cộng với thời tiết diễn biến phức tạp, nên nếu không chủ động ngăn chặn, nguy cơ dịch bệnh lây lan, bùng phát khá cao.

Tiềm ẩn nhiều nguy cơ
Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh CGC, chiều tối 20-2, Bộ Y tế cùng các cơ quan liên quan đã họp bàn các biện pháp đáp ứng khẩn cấp phòng chống dịch bệnh. Theo báo cáo của Bộ Y tế, dịch cúm A/H7N9 ở Trung Quốc rất phức tạp, hiện đã ghi nhận 425 trường hợp mắc với tỷ lệ tử vong khoảng hơn 40%. 
Theo báo cáo của ông Đàm Xuân Thành, Phó Cục trưởng Cục Thú y - Bộ NN&PTNT, từ đầu năm đến nay nước ta đã ghi nhận 3 ổ dịch CGC H5N1. Riêng ngày 20-2 đã ghi nhận ổ CGC tại 3 hộ gia đình thuộc xã Trực Thuận, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Chính quyền tại đây đã tiêu hủy 4.600 con vịt (mắc dịch cúm A/H5N1 từ ngày 15-2). UBND huyện Trực Ninh đã ra quyết định công bố dịch trong ngày 20-2. Với dịch cúm A/H5N6, đầu năm 2017 đã ghi nhận ổ dịch tại xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Phó Chi cục trưởng Chi cục Thú y Hà Nội Nguyễn Ngọc Sơn cho biết, tình hình chăn nuôi gia cầm ở thành phố vẫn ổn định với tổng đàn 26 triệu con. Tuy nhiên, chăn nuôi vẫn ở dạng nhỏ lẻ (chiếm khoảng 70%), tự phát trong khu dân cư nên công tác quản lý gặp nhiều khó khăn. Ý thức người dân cũng còn hạn chế như: Khi nhập con giống về chăn nuôi chưa khai báo đầy đủ với chính quyền địa phương, gây khó khăn trong quản lý đàn vật nuôi, nguồn gốc của vật nuôi, nguồn gốc dịch bệnh. Khu vực chăn nuôi bị ô nhiễm, không bảo đảm vệ sinh cũng khiến dịch bệnh phát sinh nếu không có biện pháp phòng, chống hiệu quả. 
PGS.TS Trần Đắc Phu, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) khẳng định, trong bối cảnh dịch cúm A/H7N9 bùng phát tại Trung Quốc, nếu không kiểm soát chặt tình trạng vận chuyển, buôn bán, nhập lậu gia cầm qua biên giới thì nguy cơ dịch xâm nhập vào nước ta rất lớn. 
Quyết liệt các biện pháp phòng chống 
Nhằm ngăn chặn hiệu quả sự xâm nhiễm vi rút CGC A/H7N9 và các chủng vi rút CGC khác, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường đã yêu cầu các địa phương quyết liệt thực hiện những biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Theo đó, nghiêm cấm vận chuyển, buôn bán, giết mổ, tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu qua biên giới, kể cả hình thức cho, tặng gia cầm, sản phẩm gia cầm. Tuyên truyền đến cư dân biên giới về sự nguy hiểm của bệnh CGC, giám sát, phát hiện, đấu tranh không tiếp tay cho các hoạt động buôn bán, vận chuyển, giết mổ gia cầm. Vận động người chăn nuôi chỉ mua gia cầm giống ở các cơ sở có uy tín trong nước, có nguồn gốc rõ ràng, đã qua kiểm dịch thú y. Ngoài ra, đẩy mạnh tuyên truyền, giúp người dân hiểu, nắm chắc tình hình dịch bệnh, cách phòng tránh. 
Phó Cục trưởng Cục Thú y - Bộ NN&PTNT Đàm Xuân Thành cho biết, gia cầm bị nhiễm cúm có biểu hiện sưng phù đầu mặt, mí mắt, mào yếm thịt, mắt cá chân; tím tái ở mào, chỗ da không có lông, yếm thịt dưới da cổ của gà tây, xuất huyết dưới da… Người bị nhiễm vi rút CGC đều do tiếp xúc trực tiếp với gia cầm bị bệnh hoặc với môi trường đã bị nhiễm vi rút như: Chuồng, phân, chất thải gia cầm. Người bị nhiễm vi rút cúm A/H5N1 có biểu hiện ho, sốt cao, đau đầu, bệnh diễn biến nhanh, tỷ lệ tử vong cao, nhưng nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời có thể cứu sống bệnh nhân. Người bị nhiễm vi rút cúm A/H7N9 thường bị viêm phổi nặng, các triệu chứng bao gồm sốt, ho và khó thở… 
Đáng lưu ý, thông tin về các bệnh mà vi rút CGC A/H7N9 có thể gây ra vẫn còn hạn chế, chưa rõ ràng. Vì vậy, để hạn chế dịch bệnh phát sinh và ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, các địa phương cần tuyên truyền tới người dân về cách nhận biết khi bị dịch CGC lây sang người. Về lâu dài, để khống chế dịch bệnh, các địa phương chăn nuôi theo quy hoạch, giảm dần chăn nuôi nhỏ lẻ; tiêm phòng vắc xin theo quy định; khuyến cáo người dân áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học... Chi cục thú y các tỉnh, thành phố nâng cao trình độ chuyên môn cho mạng lưới thú y cơ sở và người chăn nuôi để chủ động phòng chống dịch bệnh, kịp thời xử lý, khống chế phát sinh dịch bệnh gia súc, gia cầm ngay từ cơ sở.
 
ĐTK tổng hợp theo hanoimoi

Nguy cơ bùng phát dịch cúm gia cầm

Vi rút cúm gia cầm (CGC) A/H7N9 đang bùng phát mạnh ở Trung Quốc. Dù Việt Nam chưa xuất hiện chủng vi rút CGC A/H7N9 nhưng chủng vi rút CGC A/H5N1 vẫn xảy ra ở một số địa phương. Đây là thời điểm nông dân tập trung tái đàn chăn nuôi sau Tết Nguyên đán, cộng với thời tiết diễn biến phức tạp, nên nếu không chủ động ngăn chặn, nguy cơ dịch bệnh lây lan, bùng phát khá cao.

Tiềm ẩn nhiều nguy cơ
Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh CGC, chiều tối 20-2, Bộ Y tế cùng các cơ quan liên quan đã họp bàn các biện pháp đáp ứng khẩn cấp phòng chống dịch bệnh. Theo báo cáo của Bộ Y tế, dịch cúm A/H7N9 ở Trung Quốc rất phức tạp, hiện đã ghi nhận 425 trường hợp mắc với tỷ lệ tử vong khoảng hơn 40%. 
Theo báo cáo của ông Đàm Xuân Thành, Phó Cục trưởng Cục Thú y - Bộ NN&PTNT, từ đầu năm đến nay nước ta đã ghi nhận 3 ổ dịch CGC H5N1. Riêng ngày 20-2 đã ghi nhận ổ CGC tại 3 hộ gia đình thuộc xã Trực Thuận, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Chính quyền tại đây đã tiêu hủy 4.600 con vịt (mắc dịch cúm A/H5N1 từ ngày 15-2). UBND huyện Trực Ninh đã ra quyết định công bố dịch trong ngày 20-2. Với dịch cúm A/H5N6, đầu năm 2017 đã ghi nhận ổ dịch tại xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Phó Chi cục trưởng Chi cục Thú y Hà Nội Nguyễn Ngọc Sơn cho biết, tình hình chăn nuôi gia cầm ở thành phố vẫn ổn định với tổng đàn 26 triệu con. Tuy nhiên, chăn nuôi vẫn ở dạng nhỏ lẻ (chiếm khoảng 70%), tự phát trong khu dân cư nên công tác quản lý gặp nhiều khó khăn. Ý thức người dân cũng còn hạn chế như: Khi nhập con giống về chăn nuôi chưa khai báo đầy đủ với chính quyền địa phương, gây khó khăn trong quản lý đàn vật nuôi, nguồn gốc của vật nuôi, nguồn gốc dịch bệnh. Khu vực chăn nuôi bị ô nhiễm, không bảo đảm vệ sinh cũng khiến dịch bệnh phát sinh nếu không có biện pháp phòng, chống hiệu quả. 
PGS.TS Trần Đắc Phu, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) khẳng định, trong bối cảnh dịch cúm A/H7N9 bùng phát tại Trung Quốc, nếu không kiểm soát chặt tình trạng vận chuyển, buôn bán, nhập lậu gia cầm qua biên giới thì nguy cơ dịch xâm nhập vào nước ta rất lớn. 
Quyết liệt các biện pháp phòng chống 
Nhằm ngăn chặn hiệu quả sự xâm nhiễm vi rút CGC A/H7N9 và các chủng vi rút CGC khác, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường đã yêu cầu các địa phương quyết liệt thực hiện những biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Theo đó, nghiêm cấm vận chuyển, buôn bán, giết mổ, tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu qua biên giới, kể cả hình thức cho, tặng gia cầm, sản phẩm gia cầm. Tuyên truyền đến cư dân biên giới về sự nguy hiểm của bệnh CGC, giám sát, phát hiện, đấu tranh không tiếp tay cho các hoạt động buôn bán, vận chuyển, giết mổ gia cầm. Vận động người chăn nuôi chỉ mua gia cầm giống ở các cơ sở có uy tín trong nước, có nguồn gốc rõ ràng, đã qua kiểm dịch thú y. Ngoài ra, đẩy mạnh tuyên truyền, giúp người dân hiểu, nắm chắc tình hình dịch bệnh, cách phòng tránh. 
Phó Cục trưởng Cục Thú y - Bộ NN&PTNT Đàm Xuân Thành cho biết, gia cầm bị nhiễm cúm có biểu hiện sưng phù đầu mặt, mí mắt, mào yếm thịt, mắt cá chân; tím tái ở mào, chỗ da không có lông, yếm thịt dưới da cổ của gà tây, xuất huyết dưới da… Người bị nhiễm vi rút CGC đều do tiếp xúc trực tiếp với gia cầm bị bệnh hoặc với môi trường đã bị nhiễm vi rút như: Chuồng, phân, chất thải gia cầm. Người bị nhiễm vi rút cúm A/H5N1 có biểu hiện ho, sốt cao, đau đầu, bệnh diễn biến nhanh, tỷ lệ tử vong cao, nhưng nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời có thể cứu sống bệnh nhân. Người bị nhiễm vi rút cúm A/H7N9 thường bị viêm phổi nặng, các triệu chứng bao gồm sốt, ho và khó thở… 
Đáng lưu ý, thông tin về các bệnh mà vi rút CGC A/H7N9 có thể gây ra vẫn còn hạn chế, chưa rõ ràng. Vì vậy, để hạn chế dịch bệnh phát sinh và ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, các địa phương cần tuyên truyền tới người dân về cách nhận biết khi bị dịch CGC lây sang người. Về lâu dài, để khống chế dịch bệnh, các địa phương chăn nuôi theo quy hoạch, giảm dần chăn nuôi nhỏ lẻ; tiêm phòng vắc xin theo quy định; khuyến cáo người dân áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học... Chi cục thú y các tỉnh, thành phố nâng cao trình độ chuyên môn cho mạng lưới thú y cơ sở và người chăn nuôi để chủ động phòng chống dịch bệnh, kịp thời xử lý, khống chế phát sinh dịch bệnh gia súc, gia cầm ngay từ cơ sở.
 
ĐTK tổng hợp theo hanoimoi
Ðọc thêm..
Căng thẳng chính trị và giá cả toàn cầu tăng sau những đợt hạn hán nghiêm trọng là đòn giáng mạnh lên nguồn cung cà phê robusta ở Braxin...

Vài năm gần đây trở nên khó khăn với anh Rodrigo Rigo – một nông dân trồng cà phê ở tiểu bang Espirito Santo, phía bắc Thủ đô Rio de Jainero, Braxin.
Chịu ảnh hưởng của hạn hán nghiêm trọng ở những tiểu bang chủ chốt trồng cà phê, những gì anh thu hoạch được đã giảm 60% so với mức thông thường.
“Những người già 60, 70, 80 tuổi sống quanh đây, không ai trong số họ đã từng chứng kiến hạn hán nghiêm trọng như thế này”, anh nói.
Anh Rigo và những nông dân khác đang chuẩn bị đón một mối đe dọa khác: cà phê nhập khẩu. Lần đầu tiên kể từ khi nước này chiếm ưu thế trên toàn cầu về các sản phẩm cà phê từ thế kỷ 19, Braxin đang chuẩn bị mở cửa cho cà phê đi vào từ các nước khác như Việt Nam trong hoàn cảnh thiếu hụt nguồn cung cà phê hạt.
Khoảng 90% hạt cà phê robusta ở Braxin – loại có chất lượng thấp hơn hạt arabica – được sử dụng trong nước, chủ yếu được bán cho ngành công nghiệp chế biến cà phê hòa tan. Cùng với việc đẩy giá cà phê robusta lên mức cao kỷ lục ở Braxin, thiếu hụt nguồn cung cũng đã đưa giá thế giới lên mức cao nhất trong vòng 5 năm.
Tăng đột biến giá robusta đã đe dọa vị trí dẫn đầu thị trường cà phê hòa tan toàn cầu của Braxin. Sau khi chần chừ trong nhiều tháng liệu có nên cho phép tạm thời nhập khẩu khoảng 60.000 tấn cà phê tươi nguyên hạt, chính phủ có vẻ đã chấp thuận biện pháp này.
Măc dù đã từng nhập khẩu cà phê rang và xay trong quá khứ, cà phê tươi nguyên hạt của nước ngoài chưa một lần đặt chân lên đất Braxin trong 290 lịch sử ngành cà phê, ông Nathan Herszkowicz, Giám đốc điều hành của Hiệp hội Cà phê Braxin cho biết.
Braxin không cấm nhập khẩu cà phê, nhưng áp thuế 10% và chính phủ đang cân nhắc đưa mức này xuống 2% trên con số giới hạn.
“Mùa màng thất bát ở Espirito Santo trong năm 2015, 2016 và giờ là 2017 đã làm thiếu hụt ngày càng nghiêm trọng, khiến giá robusta tăng bằng giá arabica, điều chưa từng xảy ra trước đây ở Braxin”, ông Aguinaldo Jose de Lima, Giám đốc Hiệp hội Cà Phê hòa tan Braxin cho biết.
Giá robusta đã chạm đỉnh gần 570 BRL/kg (185 USD) hồi tháng Mười Một, tăng hơn 50% kể từ đầu năm 2016, mặc dù kể từ đó giá đã giảm xuống 440 BRL/kg nhờ dự báo lượng nhập khẩu.
Khi cả ngành đang trải qua sụt giảm 35% lượng xuất khẩu trong tháng Một và tháng Hai so sánh với cùng kỳ năm trước, giám đốc điều hành của các công ty đang thúc giục chính phủ mở cửa cho nhập khẩu hoặc đánh đổi thị phần trên thị trường cà phê hòa tan toàn cầu.
Thị trường cà phê hòa tan chiếm hơn 1/3 tổng lượng tiêu thụ cà phê và đang gia tăng với tốc độ 4%. Mặc dù người dùng ở phương Tây đang giảm, cà phê hòa tan vẫn phổ biến rộng rãi ở các thị trường đang phát triển như Đông Nam Á và Đông Âu.
Tuy nhiên, không ngạc nhiên rằng những người trồng cà phê robusta và các đại biểu của họ trong quốc hội kịch liệt phản đối nhập khẩu.
“Các công ty đang lợi dụng hạn hán như một cái cớ để thúc giục mở cửa cho nhập khẩu”, ông Evair Vieira de Mello cho biết. Ông là một thành viên của Hạ Viện đến từ Espirito Santo đứng về phía người trồng cà phê – những người mang lại nguồn thu chính cho tiểu bang này.
“Họ đang lợi dụng thời điểm nhạy cảm để tấn công sản phẩm chính của tiểu bang chúng tôi”, ông nói. Nhập khẩu cà phê có thể đẩy các sản phẩm cà phê sản xuất truyền thống bởi các doanh nghiệp gia đình ra khỏi thị trường, dẫn đến sự độc quyền có thể gây tổn thương nền kinh tế.
Đại diện của Espirito Santo đã lập luận rằng chính phủ ước tính rằng hàng tồn kho cà phê robusta còn dưới 2 triệu túi, được coi là không đủ để cung cấp cho thị trường Braxin, là sai và số liệu thực là 4,4 triệu, đủ để duy trì hoạt động rang xay của các công ty. Những tuyên bố này đã bị bác bỏ bởi Bộ trưởng Nông nghiệp.
Phe chống nhập khẩu cũng chỉ ra kinh nghiệm của ngành ca cao. Braxin từng là một nhà sản xuất ca cao hàng đầu, nhưng trong một hoàn cảnh khá giống như vấn đề của robusta hiện nay, đã mở cửa thị trường cho nhập khẩu trong những năm 90.
Những nông dân trồng ca cao trong nước không thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu rẻ hơn và cùng với sâu bệnh hại, khu vực trồng ca cao đã biến mất. Đất nước từng là nhà sản xuất lớn thứ ba thế giới giờ đây đứng thứ bảy, chiếm 3% tổng sản lượng.
“Đối với các tiểu bang phụ thuộc vào trồng hạt cà phê robusta, nỗi sợ hãi thực sự của họ là cà phê của họ sẽ bị thay thế bởi cà phê từ Việt Nam hay Bờ Biển Ngà”, ông Carlos Brando, Giám đốc hãng tư vấn cà phê quốc tế P&A nói.
 
ĐTK tổng hợp theo thoibaotaichinhvietnam

Braxin sắp nhập khẩu cà phê hạt lần đầu tiên

Căng thẳng chính trị và giá cả toàn cầu tăng sau những đợt hạn hán nghiêm trọng là đòn giáng mạnh lên nguồn cung cà phê robusta ở Braxin...

Vài năm gần đây trở nên khó khăn với anh Rodrigo Rigo – một nông dân trồng cà phê ở tiểu bang Espirito Santo, phía bắc Thủ đô Rio de Jainero, Braxin.
Chịu ảnh hưởng của hạn hán nghiêm trọng ở những tiểu bang chủ chốt trồng cà phê, những gì anh thu hoạch được đã giảm 60% so với mức thông thường.
“Những người già 60, 70, 80 tuổi sống quanh đây, không ai trong số họ đã từng chứng kiến hạn hán nghiêm trọng như thế này”, anh nói.
Anh Rigo và những nông dân khác đang chuẩn bị đón một mối đe dọa khác: cà phê nhập khẩu. Lần đầu tiên kể từ khi nước này chiếm ưu thế trên toàn cầu về các sản phẩm cà phê từ thế kỷ 19, Braxin đang chuẩn bị mở cửa cho cà phê đi vào từ các nước khác như Việt Nam trong hoàn cảnh thiếu hụt nguồn cung cà phê hạt.
Khoảng 90% hạt cà phê robusta ở Braxin – loại có chất lượng thấp hơn hạt arabica – được sử dụng trong nước, chủ yếu được bán cho ngành công nghiệp chế biến cà phê hòa tan. Cùng với việc đẩy giá cà phê robusta lên mức cao kỷ lục ở Braxin, thiếu hụt nguồn cung cũng đã đưa giá thế giới lên mức cao nhất trong vòng 5 năm.
Tăng đột biến giá robusta đã đe dọa vị trí dẫn đầu thị trường cà phê hòa tan toàn cầu của Braxin. Sau khi chần chừ trong nhiều tháng liệu có nên cho phép tạm thời nhập khẩu khoảng 60.000 tấn cà phê tươi nguyên hạt, chính phủ có vẻ đã chấp thuận biện pháp này.
Măc dù đã từng nhập khẩu cà phê rang và xay trong quá khứ, cà phê tươi nguyên hạt của nước ngoài chưa một lần đặt chân lên đất Braxin trong 290 lịch sử ngành cà phê, ông Nathan Herszkowicz, Giám đốc điều hành của Hiệp hội Cà phê Braxin cho biết.
Braxin không cấm nhập khẩu cà phê, nhưng áp thuế 10% và chính phủ đang cân nhắc đưa mức này xuống 2% trên con số giới hạn.
“Mùa màng thất bát ở Espirito Santo trong năm 2015, 2016 và giờ là 2017 đã làm thiếu hụt ngày càng nghiêm trọng, khiến giá robusta tăng bằng giá arabica, điều chưa từng xảy ra trước đây ở Braxin”, ông Aguinaldo Jose de Lima, Giám đốc Hiệp hội Cà Phê hòa tan Braxin cho biết.
Giá robusta đã chạm đỉnh gần 570 BRL/kg (185 USD) hồi tháng Mười Một, tăng hơn 50% kể từ đầu năm 2016, mặc dù kể từ đó giá đã giảm xuống 440 BRL/kg nhờ dự báo lượng nhập khẩu.
Khi cả ngành đang trải qua sụt giảm 35% lượng xuất khẩu trong tháng Một và tháng Hai so sánh với cùng kỳ năm trước, giám đốc điều hành của các công ty đang thúc giục chính phủ mở cửa cho nhập khẩu hoặc đánh đổi thị phần trên thị trường cà phê hòa tan toàn cầu.
Thị trường cà phê hòa tan chiếm hơn 1/3 tổng lượng tiêu thụ cà phê và đang gia tăng với tốc độ 4%. Mặc dù người dùng ở phương Tây đang giảm, cà phê hòa tan vẫn phổ biến rộng rãi ở các thị trường đang phát triển như Đông Nam Á và Đông Âu.
Tuy nhiên, không ngạc nhiên rằng những người trồng cà phê robusta và các đại biểu của họ trong quốc hội kịch liệt phản đối nhập khẩu.
“Các công ty đang lợi dụng hạn hán như một cái cớ để thúc giục mở cửa cho nhập khẩu”, ông Evair Vieira de Mello cho biết. Ông là một thành viên của Hạ Viện đến từ Espirito Santo đứng về phía người trồng cà phê – những người mang lại nguồn thu chính cho tiểu bang này.
“Họ đang lợi dụng thời điểm nhạy cảm để tấn công sản phẩm chính của tiểu bang chúng tôi”, ông nói. Nhập khẩu cà phê có thể đẩy các sản phẩm cà phê sản xuất truyền thống bởi các doanh nghiệp gia đình ra khỏi thị trường, dẫn đến sự độc quyền có thể gây tổn thương nền kinh tế.
Đại diện của Espirito Santo đã lập luận rằng chính phủ ước tính rằng hàng tồn kho cà phê robusta còn dưới 2 triệu túi, được coi là không đủ để cung cấp cho thị trường Braxin, là sai và số liệu thực là 4,4 triệu, đủ để duy trì hoạt động rang xay của các công ty. Những tuyên bố này đã bị bác bỏ bởi Bộ trưởng Nông nghiệp.
Phe chống nhập khẩu cũng chỉ ra kinh nghiệm của ngành ca cao. Braxin từng là một nhà sản xuất ca cao hàng đầu, nhưng trong một hoàn cảnh khá giống như vấn đề của robusta hiện nay, đã mở cửa thị trường cho nhập khẩu trong những năm 90.
Những nông dân trồng ca cao trong nước không thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu rẻ hơn và cùng với sâu bệnh hại, khu vực trồng ca cao đã biến mất. Đất nước từng là nhà sản xuất lớn thứ ba thế giới giờ đây đứng thứ bảy, chiếm 3% tổng sản lượng.
“Đối với các tiểu bang phụ thuộc vào trồng hạt cà phê robusta, nỗi sợ hãi thực sự của họ là cà phê của họ sẽ bị thay thế bởi cà phê từ Việt Nam hay Bờ Biển Ngà”, ông Carlos Brando, Giám đốc hãng tư vấn cà phê quốc tế P&A nói.
 
ĐTK tổng hợp theo thoibaotaichinhvietnam
Ðọc thêm..
Thời gian gần đây, giá lợn hơi xuất bán tại các cơ sở chăn nuôi đang giảm xuống mức kỷ lục trong vòng 10 năm trở lại đây. Với giá lợn hơi khoảng 30.000 đồng/kg như hiện nay, người chăn nuôi phải chịu lỗ mỗi con lợn cả triệu đồng. Thế nhưng có một nghịch lý là trên thị trường bán lẻ, người tiêu dùng vẫn phải mua thịt lợn với giá cao.


Ông Nguyễn Xuân Dương
Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT đã có những trao đổi về vấn đề này và nêu giải pháp để hạn chế thiệt hại cho người chăn nuôi. 
Thưa ông, trước hết ông có thể cho biết nguyên nhân tại sao giá lợn hơi lại giảm mạnh trong thời gian qua?
– Nguồn cung của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng khá dồi dào, trong khi sức mua của thị trường về các sản phẩm chăn nuôi thấp hơn. Ngoài ra cũng có những bất cập trong vấn đề điều tiết của khâu lưu thông, phân phối.
Việc giá lợn hơi giảm là do người chăn nuôi tăng “nóng” đàn lợn trong thời gian qua, cùng với đó là tác động khá lớn từ sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, bởi lâu nay lợn của chúng ta chủ yếu xuất khẩu vào thị trường này.
Điều này đã được Bộ NN&PTNT cảnh báo, ngay những thời điểm giá lợn hơi ở mức 55.000-58.000 đồng/kg thì Bộ đã chỉ đạo các địa phương không tăng quy mô đàn nái bằng mọi giá mà nên theo hướng thay đổi cơ cấu chất lượng giống và phương thức chăn nuôi phù hợp với thị trường trong nước và hội nhập quốc tế. 
Có một thực tế là lâu nay chăn nuôi của chúng ta vẫn chủ yếu là theo phong trào, khi thấy giá lợn lên thì đua nhau tăng đàn dù chưa nắm bắt và phán đoán được những tín hiệu của thị trường để điều chỉnh việc chăn nuôi theo nhu cầu. Đây có phải đang là điểm nghẽn lớn của ngành chăn nuôi hay không thưa ông?
– Đây là một thực tế của nông nghiệp nước ta từ lâu nay vốn đang được tái cơ cấu tập trung lại từ kinh tế hộ nhỏ lẻ với quá nhiều người tham gia vào quá trình sản xuất và cung ứng nông sản, thực phẩm. Tuy nhiên, gần đây đã giảm đi khá nhiều do cạnh tranh mà không ít các nông hộ sản xuất theo hình thức tận dụng khó có thể tồn tại, nhất là sản xuất chăn nuôi, lĩnh vực chứa đựng nhiều yếu tố kỹ thuật, yếu tố công nghiệp và hội nhập cao, đòi hỏi người sản xuất, kinh doanh phải chuyên nghiệp và nắm bắt được thị trường.
Đứng dưới góc độ nhà quản lý, ông suy nghĩ thế nào về hiện tượng này?
– Nghịch lý hiện nay là giá lợn cửa chuồng thì rẻ trong khi giá thịt lợn đến tay người tiêu dùng vẫn không giảm là bao nhiêu. Đây là một thực tế bất cập mà thua thiệt luôn thuộc về người chăn nuôi.
Lý do thì có nhiều nhưng sâu xa vẫn là chúng ta chưa thực sự ứng xử một cách đầy đủ từ công tác quản lý, đến hoạt động sản xuất, giết mổ, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi một cách chuyên nghiệp theo kinh tế thị trường, mặc dù về chủ trương, đường lối đã rõ và khá hoàn chỉnh.  
Về lâu dài, để hạn chế rủi ro, ngành chăn nuôi có giải pháp gì để khắc phục tình trạng này, trong đó trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước như thế nào, thưa ông?
– Tại Quyết định số 10 của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 16/2/2008 định hướng Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 có rất nhiều điểm phù hợp với tình hình hiện nay. Tuy nhiên cần phải có tổng kết trong năm 2017 để điều chỉnh cho phù hợp hơn, nhất là định hướng quy hoạch các ngành hàng chủ lực như thịt lợn, thịt, trứng gia cầm và thịt trâu bò.  
Tổ chức sản xuất chăn nuôi theo các chuỗi liên kết, trong đó đứng đầu là các doanh nghiệp-hợp tác xã, tổ hợp tác-hộ chăn nuôi hoặc doanh nghiệp-hộ chăn nuôi lớn, hộ trang trại vừa bảo đảm truy xuất nguồn gốc chất lượng, an toàn thực phẩm và kiểm soát được cung cầu thị trường.
Các cơ quan chức năng khẩn trương nghiên cứu khảo sát thị trường và hoàn thiện hạ tầng pháp chế, hàng rào kỹ thuật thừa nhận lẫn nhau trong hoạt động kiểm dịch và kiểm tra chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi là thế mạnh của Việt Nam sang các nước, trước hết là các nước xung quanh ta và hạn chế nhập khẩu các sản phẩm mà trong nước đã đáp ứng được.
Xin cảm ơn ông!
 
ĐTK tổng hợp theo vfpress

Vì sao giá lợn cửa chuồng rẻ, nhưng giá đến chợ vẫn cao?

Thời gian gần đây, giá lợn hơi xuất bán tại các cơ sở chăn nuôi đang giảm xuống mức kỷ lục trong vòng 10 năm trở lại đây. Với giá lợn hơi khoảng 30.000 đồng/kg như hiện nay, người chăn nuôi phải chịu lỗ mỗi con lợn cả triệu đồng. Thế nhưng có một nghịch lý là trên thị trường bán lẻ, người tiêu dùng vẫn phải mua thịt lợn với giá cao.


Ông Nguyễn Xuân Dương
Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT đã có những trao đổi về vấn đề này và nêu giải pháp để hạn chế thiệt hại cho người chăn nuôi. 
Thưa ông, trước hết ông có thể cho biết nguyên nhân tại sao giá lợn hơi lại giảm mạnh trong thời gian qua?
– Nguồn cung của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng khá dồi dào, trong khi sức mua của thị trường về các sản phẩm chăn nuôi thấp hơn. Ngoài ra cũng có những bất cập trong vấn đề điều tiết của khâu lưu thông, phân phối.
Việc giá lợn hơi giảm là do người chăn nuôi tăng “nóng” đàn lợn trong thời gian qua, cùng với đó là tác động khá lớn từ sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, bởi lâu nay lợn của chúng ta chủ yếu xuất khẩu vào thị trường này.
Điều này đã được Bộ NN&PTNT cảnh báo, ngay những thời điểm giá lợn hơi ở mức 55.000-58.000 đồng/kg thì Bộ đã chỉ đạo các địa phương không tăng quy mô đàn nái bằng mọi giá mà nên theo hướng thay đổi cơ cấu chất lượng giống và phương thức chăn nuôi phù hợp với thị trường trong nước và hội nhập quốc tế. 
Có một thực tế là lâu nay chăn nuôi của chúng ta vẫn chủ yếu là theo phong trào, khi thấy giá lợn lên thì đua nhau tăng đàn dù chưa nắm bắt và phán đoán được những tín hiệu của thị trường để điều chỉnh việc chăn nuôi theo nhu cầu. Đây có phải đang là điểm nghẽn lớn của ngành chăn nuôi hay không thưa ông?
– Đây là một thực tế của nông nghiệp nước ta từ lâu nay vốn đang được tái cơ cấu tập trung lại từ kinh tế hộ nhỏ lẻ với quá nhiều người tham gia vào quá trình sản xuất và cung ứng nông sản, thực phẩm. Tuy nhiên, gần đây đã giảm đi khá nhiều do cạnh tranh mà không ít các nông hộ sản xuất theo hình thức tận dụng khó có thể tồn tại, nhất là sản xuất chăn nuôi, lĩnh vực chứa đựng nhiều yếu tố kỹ thuật, yếu tố công nghiệp và hội nhập cao, đòi hỏi người sản xuất, kinh doanh phải chuyên nghiệp và nắm bắt được thị trường.
Đứng dưới góc độ nhà quản lý, ông suy nghĩ thế nào về hiện tượng này?
– Nghịch lý hiện nay là giá lợn cửa chuồng thì rẻ trong khi giá thịt lợn đến tay người tiêu dùng vẫn không giảm là bao nhiêu. Đây là một thực tế bất cập mà thua thiệt luôn thuộc về người chăn nuôi.
Lý do thì có nhiều nhưng sâu xa vẫn là chúng ta chưa thực sự ứng xử một cách đầy đủ từ công tác quản lý, đến hoạt động sản xuất, giết mổ, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi một cách chuyên nghiệp theo kinh tế thị trường, mặc dù về chủ trương, đường lối đã rõ và khá hoàn chỉnh.  
Về lâu dài, để hạn chế rủi ro, ngành chăn nuôi có giải pháp gì để khắc phục tình trạng này, trong đó trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước như thế nào, thưa ông?
– Tại Quyết định số 10 của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 16/2/2008 định hướng Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 có rất nhiều điểm phù hợp với tình hình hiện nay. Tuy nhiên cần phải có tổng kết trong năm 2017 để điều chỉnh cho phù hợp hơn, nhất là định hướng quy hoạch các ngành hàng chủ lực như thịt lợn, thịt, trứng gia cầm và thịt trâu bò.  
Tổ chức sản xuất chăn nuôi theo các chuỗi liên kết, trong đó đứng đầu là các doanh nghiệp-hợp tác xã, tổ hợp tác-hộ chăn nuôi hoặc doanh nghiệp-hộ chăn nuôi lớn, hộ trang trại vừa bảo đảm truy xuất nguồn gốc chất lượng, an toàn thực phẩm và kiểm soát được cung cầu thị trường.
Các cơ quan chức năng khẩn trương nghiên cứu khảo sát thị trường và hoàn thiện hạ tầng pháp chế, hàng rào kỹ thuật thừa nhận lẫn nhau trong hoạt động kiểm dịch và kiểm tra chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi là thế mạnh của Việt Nam sang các nước, trước hết là các nước xung quanh ta và hạn chế nhập khẩu các sản phẩm mà trong nước đã đáp ứng được.
Xin cảm ơn ông!
 
ĐTK tổng hợp theo vfpress
Ðọc thêm..