Công tác chuẩn bị hàng hóa cung cấp cho dịp Tết 2017 đã được TP.HCM chuẩn bị chu đáo và không để xảy ra tình trạng "đội giá" làm ảnh hướng đến đời sống của người dân. Tuy nhiên, tình trạng hàng giả, hàng nhái vẫn diễn biến phức tạp.

Không để tình trạng hàng hóa "đội giá"
 
h2-1480422518246
Thứ trưởng Bộ Công thương Hồ Thị Kim Thoa đi kiểm tra các đơn vị cung cấp hàng bình ổn trong dịp Tết 2017 tại TP.HCM.
Ngày 29/11, đoàn công tác của Bộ Công Thương do Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa làm trưởng đoàn đã làm việc với TP.HCM về tình hình chuẩn bị nguồn hàng, cung ứng các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu Tết Đinh Dậu 2017 trên địa bàn.

Phó Giám đốc Sở Công Thương TP.HCM Nguyễn Huỳnh Trang cho biết, năm 2016, thành phố tiếp tục thực hiện chương trình Bình ổn thị trường theo hướng xã hội hóa, không sử dụng vốn ngân sách. Có 86 doanh nghiệp tham gia 4 chương trình bình ổn thị trường của TP. Trong đó nhiều nhóm hàng chuẩn bị với lượng lớn, chi phối từ 35% - 52% nhu cầu thị trường.
Hiện các đơn vị đầu mối đều chuẩn bị tốt việc tăng cường bán hàng lưu động. Sở Công Thương thành phố cũng đã phối hợp với các đơn vị doanh nghiệp, các tỉnh… hầu hết các đơn vị đều khẳng định bảo đảm tình hình cung ứng hàng Tết năm nay sẽ bằng và cao hơn 2016 từ 15-30%.
Tại buổi làm việc đại diện các đơn vị thực phẩm đầu mối đều cho biết công tác chuẩn bị hàng hóa Tết không gặp khó khăn và doanh nghiệp mong muốn người tiêu dùng quan tâm mua sắm những thương hiệu có uy tín để hàng Việt đến tay người tiêu dùng.
Đại diện Satra thông tin, hiện Satra đã chuẩn bị hơn 21.300 tấn hàng hóa, trị giá 1.600 tỷ đồng tăng khoảng 29% so với Tết năm trước. Bên cạnh nhóm hàng bình ổn thị trường, Satra cũng tăng cường tập trung 645 tỷ đồng để xây dựng nguồn hàng bình ổn như bánh kẹo, bia phục vụ cho Tết, tăng khoảng 30-35% so với năm ngoái.
Đại diện Saigon Co.op cho biết, đơn vị có 81 siêu thị, 8 Co.opfood, 2 đại siêu thị trong dịp Tết năm nay sẽ mở cửa sớm hơn 1 tiếng và đóng cửa muộn hơn 1 tiếng để phục vụ người dân mua sắm. Lượng hàng hóa được Saigon Co.op chuẩn bị tăng 15% so với năm trước.
Riêng về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, đại diện Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được TP chú trọng. Hiện nay, TP có 91 xã phường trồng rau an toàn với có khoảng 836 tổ chức cá nhân tham gia cung cấp khoảng 61.000 tấn rau/năm và đạt chứng nhận VietGAP…

 
Các đơn vị cung cấp thực phẩm lớn tại TP.HCM cam kết không để thực phẩm đội giá dịp Tết.
Các đơn vị cung cấp thực phẩm lớn tại TP.HCM cam kết không để thực phẩm "đội giá" dịp Tết.
Thứ trưởng Bộ Công thương Hồ Thị Kim Thoa cho biết, hoàn toàn yên tâm với công tác chuẩn bị nguồn cung ứng hàng hóa trong dịp Tết Đinh Dậu 2017 của TP.HCM. Bà Thoa cũng đánh giá cao việc kết nối giữa ngân hàng và doanh nghiệp của TP.HCM. “Chương trình bình ổn tại TP HCM đã được xã hội hóa rất cao, tạo thêm sức mạnh cho chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” cũng như mang lại hiệu quả thiết thực cho TP trong việc điều phối hàng hóa, giá cả, góp phần ổn định kinh tế xã hội của cả nước”, bà Thoa nhìn nhận và lưu ý với TP HCM cần đưa hàng bình ổn đến nhiều nơi, nhiều kênh phân phối để những mặt hàng bình ổn có thể đến tận tay người tiêu dùng.
Hàng giả, nhái diễn biến phức tạp
Lực lượng quản lý thị trường kiểm tra một kho hàng mập mờ nguồn gốc tại TP.HCM.
Lực lượng quản lý thị trường kiểm tra một kho hàng "mập mờ" nguồn gốc tại TP.HCM.
Trong buổi làm việc về vấn đề kiểm soát hàng gian, hàng giả vừa diễn ra TP.HCM, ông Trần Hùng, Phó Chánh văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (389) cho biết, thời gian gần đây, tình hình buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái và hàng kém chất lượng diễn biến ngày càng phức tạp và tinh vi.

Lĩnh vực được phát hiện nhiều nhất là mỹ phẩm và thực phẩm chức năng với quy mô lớn. Đáng lưu ý là việc quảng cáo quá phạm vi chuyên môn để đánh lừa người tiêu dùng.
Ông Hùng cho biết thêm, cuối năm là dịp mà các đối tượng xấu lợi dụng nhu cầu tiêu thụ của người dân để tuồn hàng gian, hàng giả ra thị trường, gây nhiều nguy hại cho người tiêu dùng. Đặc biệt, lượng hàng gian, hàng giả nhiều nhất cả nước hiện nay tập trung ở TP.HCM và Hà Nội.
Theo ông Lê Văn Giang, Cục phó cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Bộ Y tế, trong 9 tháng đầu năm 2016, các đoàn liên ngành Trung ương và 63 tỉnh thành đã tổ chức kiểm tra 345.106 cơ sở. Qua đó phát hiện 56.978 cơ sở vi phạm về an toàn thực phẩm, chiếm 16,51%; đã xử lý 13.307 cơ sở (chiếm 23,35% số cơ sở vi phạm), trong đó phạt tiền 8.920 cơ sở với số tiền phạt hơn 26 tỷ đồng.

Riêng kết quả xử lý vi phạm tại Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), từ đầu năm đến ngày 22/11, đã phát hiện, xử lý 86 cơ sở vi phạm, tổng số tiền phạt hơn 5,5 tỷ đồng. Thu hồi 16 Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm; tạm dừng lưu thông 18 lô sản phẩm vi phạm..
Các mặt hàng liên quan đến lĩnh vực y tế, Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn đã yêu cầu các đơn vị trực thuộc trung ương và địa phương phối hợp để kiểm soát chặt chẽ hàng gian, hàng giả trong lĩnh vực y tế. Cụ thể là trong 3 lĩnh vực: Thực phẩm và thực phẩm chức năng; dược và mỹ phẩm; dược liệu trong y học cổ truyền.
Theo Thứ trưởng, cần đặt lợi ích sức khỏe người tiêu dùng lên hàng đầu, nếu phát hiện sai phạm trong việc kinh doanh, buôn bán hàng gian, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng dưới mọi hình thức trong lĩnh vực y tế sẽ xử lý nghiêm. Việc kiểm tra, lấy mẫu kiểm nghiệm phải khách quan, tuân thủ đúng qui định của pháp luật, tránh làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của các cơ sở buôn bán chân chính.
Đối với các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh buôn bán, thứ trưởng kêu gọi phải tuân thủ qui định của pháp luật. Đồng thời, khuyến cáo người tiêu dùng hãy sáng suốt lựa chọn sản phẩm.

 
ĐTK tổng hợp

"Nóng" chuyện thực phẩm, hàng dỏm dịp Tết

Công tác chuẩn bị hàng hóa cung cấp cho dịp Tết 2017 đã được TP.HCM chuẩn bị chu đáo và không để xảy ra tình trạng "đội giá" làm ảnh hướng đến đời sống của người dân. Tuy nhiên, tình trạng hàng giả, hàng nhái vẫn diễn biến phức tạp.

Không để tình trạng hàng hóa "đội giá"
 
h2-1480422518246
Thứ trưởng Bộ Công thương Hồ Thị Kim Thoa đi kiểm tra các đơn vị cung cấp hàng bình ổn trong dịp Tết 2017 tại TP.HCM.
Ngày 29/11, đoàn công tác của Bộ Công Thương do Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa làm trưởng đoàn đã làm việc với TP.HCM về tình hình chuẩn bị nguồn hàng, cung ứng các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu Tết Đinh Dậu 2017 trên địa bàn.

Phó Giám đốc Sở Công Thương TP.HCM Nguyễn Huỳnh Trang cho biết, năm 2016, thành phố tiếp tục thực hiện chương trình Bình ổn thị trường theo hướng xã hội hóa, không sử dụng vốn ngân sách. Có 86 doanh nghiệp tham gia 4 chương trình bình ổn thị trường của TP. Trong đó nhiều nhóm hàng chuẩn bị với lượng lớn, chi phối từ 35% - 52% nhu cầu thị trường.
Hiện các đơn vị đầu mối đều chuẩn bị tốt việc tăng cường bán hàng lưu động. Sở Công Thương thành phố cũng đã phối hợp với các đơn vị doanh nghiệp, các tỉnh… hầu hết các đơn vị đều khẳng định bảo đảm tình hình cung ứng hàng Tết năm nay sẽ bằng và cao hơn 2016 từ 15-30%.
Tại buổi làm việc đại diện các đơn vị thực phẩm đầu mối đều cho biết công tác chuẩn bị hàng hóa Tết không gặp khó khăn và doanh nghiệp mong muốn người tiêu dùng quan tâm mua sắm những thương hiệu có uy tín để hàng Việt đến tay người tiêu dùng.
Đại diện Satra thông tin, hiện Satra đã chuẩn bị hơn 21.300 tấn hàng hóa, trị giá 1.600 tỷ đồng tăng khoảng 29% so với Tết năm trước. Bên cạnh nhóm hàng bình ổn thị trường, Satra cũng tăng cường tập trung 645 tỷ đồng để xây dựng nguồn hàng bình ổn như bánh kẹo, bia phục vụ cho Tết, tăng khoảng 30-35% so với năm ngoái.
Đại diện Saigon Co.op cho biết, đơn vị có 81 siêu thị, 8 Co.opfood, 2 đại siêu thị trong dịp Tết năm nay sẽ mở cửa sớm hơn 1 tiếng và đóng cửa muộn hơn 1 tiếng để phục vụ người dân mua sắm. Lượng hàng hóa được Saigon Co.op chuẩn bị tăng 15% so với năm trước.
Riêng về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, đại diện Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được TP chú trọng. Hiện nay, TP có 91 xã phường trồng rau an toàn với có khoảng 836 tổ chức cá nhân tham gia cung cấp khoảng 61.000 tấn rau/năm và đạt chứng nhận VietGAP…

 
Các đơn vị cung cấp thực phẩm lớn tại TP.HCM cam kết không để thực phẩm đội giá dịp Tết.
Các đơn vị cung cấp thực phẩm lớn tại TP.HCM cam kết không để thực phẩm "đội giá" dịp Tết.
Thứ trưởng Bộ Công thương Hồ Thị Kim Thoa cho biết, hoàn toàn yên tâm với công tác chuẩn bị nguồn cung ứng hàng hóa trong dịp Tết Đinh Dậu 2017 của TP.HCM. Bà Thoa cũng đánh giá cao việc kết nối giữa ngân hàng và doanh nghiệp của TP.HCM. “Chương trình bình ổn tại TP HCM đã được xã hội hóa rất cao, tạo thêm sức mạnh cho chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” cũng như mang lại hiệu quả thiết thực cho TP trong việc điều phối hàng hóa, giá cả, góp phần ổn định kinh tế xã hội của cả nước”, bà Thoa nhìn nhận và lưu ý với TP HCM cần đưa hàng bình ổn đến nhiều nơi, nhiều kênh phân phối để những mặt hàng bình ổn có thể đến tận tay người tiêu dùng.
Hàng giả, nhái diễn biến phức tạp
Lực lượng quản lý thị trường kiểm tra một kho hàng mập mờ nguồn gốc tại TP.HCM.
Lực lượng quản lý thị trường kiểm tra một kho hàng "mập mờ" nguồn gốc tại TP.HCM.
Trong buổi làm việc về vấn đề kiểm soát hàng gian, hàng giả vừa diễn ra TP.HCM, ông Trần Hùng, Phó Chánh văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (389) cho biết, thời gian gần đây, tình hình buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái và hàng kém chất lượng diễn biến ngày càng phức tạp và tinh vi.

Lĩnh vực được phát hiện nhiều nhất là mỹ phẩm và thực phẩm chức năng với quy mô lớn. Đáng lưu ý là việc quảng cáo quá phạm vi chuyên môn để đánh lừa người tiêu dùng.
Ông Hùng cho biết thêm, cuối năm là dịp mà các đối tượng xấu lợi dụng nhu cầu tiêu thụ của người dân để tuồn hàng gian, hàng giả ra thị trường, gây nhiều nguy hại cho người tiêu dùng. Đặc biệt, lượng hàng gian, hàng giả nhiều nhất cả nước hiện nay tập trung ở TP.HCM và Hà Nội.
Theo ông Lê Văn Giang, Cục phó cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Bộ Y tế, trong 9 tháng đầu năm 2016, các đoàn liên ngành Trung ương và 63 tỉnh thành đã tổ chức kiểm tra 345.106 cơ sở. Qua đó phát hiện 56.978 cơ sở vi phạm về an toàn thực phẩm, chiếm 16,51%; đã xử lý 13.307 cơ sở (chiếm 23,35% số cơ sở vi phạm), trong đó phạt tiền 8.920 cơ sở với số tiền phạt hơn 26 tỷ đồng.

Riêng kết quả xử lý vi phạm tại Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), từ đầu năm đến ngày 22/11, đã phát hiện, xử lý 86 cơ sở vi phạm, tổng số tiền phạt hơn 5,5 tỷ đồng. Thu hồi 16 Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm; tạm dừng lưu thông 18 lô sản phẩm vi phạm..
Các mặt hàng liên quan đến lĩnh vực y tế, Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn đã yêu cầu các đơn vị trực thuộc trung ương và địa phương phối hợp để kiểm soát chặt chẽ hàng gian, hàng giả trong lĩnh vực y tế. Cụ thể là trong 3 lĩnh vực: Thực phẩm và thực phẩm chức năng; dược và mỹ phẩm; dược liệu trong y học cổ truyền.
Theo Thứ trưởng, cần đặt lợi ích sức khỏe người tiêu dùng lên hàng đầu, nếu phát hiện sai phạm trong việc kinh doanh, buôn bán hàng gian, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng dưới mọi hình thức trong lĩnh vực y tế sẽ xử lý nghiêm. Việc kiểm tra, lấy mẫu kiểm nghiệm phải khách quan, tuân thủ đúng qui định của pháp luật, tránh làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của các cơ sở buôn bán chân chính.
Đối với các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh buôn bán, thứ trưởng kêu gọi phải tuân thủ qui định của pháp luật. Đồng thời, khuyến cáo người tiêu dùng hãy sáng suốt lựa chọn sản phẩm.

 
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Xuất khẩu các sản phẩm từ ngành chăn nuôi là một thách thức những cũng hứa hẹn tương lai cho người chăn nuôi Việt Nam, khi thị trường nội địa có xu hướng bão hòa và hàng nhập khẩu giá rẻ ngày càng cạnh tranh gay gắt. Song để xuất khẩu được các sản phẩm chăn nuôi, nhiều bài toán phải được giải quyết để vượt qua những hàng rào tiêu chuẩn cao của các nước phát triển.

Rào cản ATVSTP và thương mại song phương
Qua trao đổi, các doanh nghiệp cho biết là các nước sẵn sàng nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi từ Việt Nam. Song điều họ lo ngại chủ yếu là về an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), đặc biệt là việc Việt Nam chưa có những bộ tiêu chuẩn về chăn nuôi và thiết chế để thực hiện. Điển hình là việc nhiều đối tác muốn ký kết nhập khẩu vịt Việt Nam nhưng chưa triển khai được do lo ngại không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Với ngành gà cũng vậy. Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ đã có công văn gửi Bộ Công thương, Bộ NN&PTNT thông báo việc nhiều nước như Australia, Mỹ... rất muốn nhập khẩu các mặt hàng chăn nuôi của Việt Nam với đơn hàng lớn. Tuy nhiên, “khi bắt tay vào xuất khẩu, hầu hết các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do Việt Nam và các nước chưa có hiệp định về thú y".
thị trường chăn nuôi - chăn nuôi
Nhiều doanh nghiệp chủ động hướng tới đáp ứng nhu cầu trong nước   Ảnh: CTV
Một số ý kiến khác cho rằng bên cạnh vấn đề an toàn thực phẩm thì thực chất sản phẩm chăn nuôi Việt Nam chưa xuất khẩu được nhiều là do chúng ta còn quá chú trọng tới xuất khẩu gạo, thủy sản… nên trong các hiệp định, các văn bản ký kết thương mại, chúng ta chưa ưu tiên cho sản phẩm chăn nuôi và đây mới là vấn đề cơ bản.  Quá trình thương mại toàn cầu đòi hỏi những quy tắc về thương mại, trong đó, những hiệp định mang tính thỏa thuận về xuất khẩu và nhập khẩu sẽ mở đường cho thương mại song phương. Bởi vậy, trong đàm phán thương mại, phải chăng chúng ta cần quan tâm nhiều hơn nữa tới lĩnh vực xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi?
Thời gian gần đây, Bộ NN&PTNT đã đưa một số mặt hàng chăn nuôi vào danh mục đàm phán cấp cao với Trung Quốc, Singapore, Australia...

Hiện đại hóa phục vụ xuất khẩu
Liên tục trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đi chào hàng và giới thiệu sản phẩm chăn nuôi cho các đối tác ở nhiều nước trong và ngoài châu lục. Song nhận xét chung của khách hàng là hàng hóa Việt Nam chưa thật chuyên nghiệp trong vấn đề tiêu chuẩn về nguồn gốc, xuất xứ, ATVSTP.
Các sản phẩm, được yêu cầu phải có chứng nhận về kim loại nặng, an toàn dịch bệnh, chẳng hạn. Đặc biệt với các sản phẩm tươi sống thì các hàng rào kỹ thuật lại các phức tạp. Chẳng hạn, quy định của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), thì gia cầm sống phải được bảo đảm an toàn dịch bệnh và có giấy chứng nhận kiểm dịch xuất khẩu do cơ quan thú y có thẩm quyền của các nước nhập khẩu cấp và chứng nhận. Yêu cầu về vệ sinh thú y và ATVSTP để xuất khẩu sản phẩm thịt vào châu Âu (EU) phải tuân thủ Luật Thực phẩm của EU, Ủy ban châu Âu (EC). (Thịt và các sản phẩm từ thịt phải có giấy chứng nhận kiểm dịch do cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu cấp và Tổng cục Sức khỏe và An toàn thực phẩm thuộc EC công nhận) …
Các doanh nghiệp cho rằng để thực hiện các yêu cầu này, thì từng doanh nghiệp đơn lẻ sẽ không thể thực hiện được mà cần phải tạo ra các tập đoàn lớn, hoặc các vùng chăn nuôi quy mô, mô hình liên kết, để thực hiện trên phạm vi rộng lớn. Chẳng hạn, nếu đầu tư xử lý chất thải theo yêu cầu của các đối tác thì sẽ rất tốn kém và chỉ có thể thực hiện được nếu chăn nuôi tập trung và áp dụng các quy trình chăn nuôi khoa học, đồng bộ.
Việt Nam có tổng đàn heo đứng thứ 4 thế giới nhưng thịt heo của Việt Nam xuất khẩu < 5% tổng lượng thịt sản xuất. Với ngành gà, vịt cũng tương tự. Lý do mà các đối tác nhập khẩu đưa ra là quy trình sản xuất của Việt Nam còn lạc hậu, như tiêm nhiều vaccine, kháng sinh. Dịch bệnh còn nhiều, như heo tai xanh, cúm… Tuy nhiên, lợi thế được nhắc đến đó là Việt Nam phát triển ngành xuất khẩu gia cầm sau các nước thì sẽ có điều kiện rút ra những bài học bổ ích, có điều kiện tiếp cận với những công nghệ mới nhất. Do đó, nếu “chấn hưng” ngành chăn nuôi theo hướng xuất khẩu, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng các quy trình chăn nuôi hiện đại theo xu hướng bền vững, giảm phụ thuộc vào kháng sinh, giảm bệnh tật, tạo các giống lợn, gà, vịt có giá trị thương phẩm cao.
>> Các nhà nghiên cứu đều đánh giá lạc quan là với đầu tư mạnh trong thời gian vừa qua và trong những năm tới, trong khoảng 10 năm nữa thì các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam sẽ sớm đạt được các tiêu chí xuất khẩu khắt khe của các nước và khi đó, người tiêu dùng thế giới sẽ biết nhiều hơn đến các sản phẩm chăn nuôi từ Việt Nam.
 
ĐTK tổng hợp

Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi và những rào cản

Xuất khẩu các sản phẩm từ ngành chăn nuôi là một thách thức những cũng hứa hẹn tương lai cho người chăn nuôi Việt Nam, khi thị trường nội địa có xu hướng bão hòa và hàng nhập khẩu giá rẻ ngày càng cạnh tranh gay gắt. Song để xuất khẩu được các sản phẩm chăn nuôi, nhiều bài toán phải được giải quyết để vượt qua những hàng rào tiêu chuẩn cao của các nước phát triển.

Rào cản ATVSTP và thương mại song phương
Qua trao đổi, các doanh nghiệp cho biết là các nước sẵn sàng nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi từ Việt Nam. Song điều họ lo ngại chủ yếu là về an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), đặc biệt là việc Việt Nam chưa có những bộ tiêu chuẩn về chăn nuôi và thiết chế để thực hiện. Điển hình là việc nhiều đối tác muốn ký kết nhập khẩu vịt Việt Nam nhưng chưa triển khai được do lo ngại không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Với ngành gà cũng vậy. Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ đã có công văn gửi Bộ Công thương, Bộ NN&PTNT thông báo việc nhiều nước như Australia, Mỹ... rất muốn nhập khẩu các mặt hàng chăn nuôi của Việt Nam với đơn hàng lớn. Tuy nhiên, “khi bắt tay vào xuất khẩu, hầu hết các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do Việt Nam và các nước chưa có hiệp định về thú y".
thị trường chăn nuôi - chăn nuôi
Nhiều doanh nghiệp chủ động hướng tới đáp ứng nhu cầu trong nước   Ảnh: CTV
Một số ý kiến khác cho rằng bên cạnh vấn đề an toàn thực phẩm thì thực chất sản phẩm chăn nuôi Việt Nam chưa xuất khẩu được nhiều là do chúng ta còn quá chú trọng tới xuất khẩu gạo, thủy sản… nên trong các hiệp định, các văn bản ký kết thương mại, chúng ta chưa ưu tiên cho sản phẩm chăn nuôi và đây mới là vấn đề cơ bản.  Quá trình thương mại toàn cầu đòi hỏi những quy tắc về thương mại, trong đó, những hiệp định mang tính thỏa thuận về xuất khẩu và nhập khẩu sẽ mở đường cho thương mại song phương. Bởi vậy, trong đàm phán thương mại, phải chăng chúng ta cần quan tâm nhiều hơn nữa tới lĩnh vực xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi?
Thời gian gần đây, Bộ NN&PTNT đã đưa một số mặt hàng chăn nuôi vào danh mục đàm phán cấp cao với Trung Quốc, Singapore, Australia...

Hiện đại hóa phục vụ xuất khẩu
Liên tục trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đi chào hàng và giới thiệu sản phẩm chăn nuôi cho các đối tác ở nhiều nước trong và ngoài châu lục. Song nhận xét chung của khách hàng là hàng hóa Việt Nam chưa thật chuyên nghiệp trong vấn đề tiêu chuẩn về nguồn gốc, xuất xứ, ATVSTP.
Các sản phẩm, được yêu cầu phải có chứng nhận về kim loại nặng, an toàn dịch bệnh, chẳng hạn. Đặc biệt với các sản phẩm tươi sống thì các hàng rào kỹ thuật lại các phức tạp. Chẳng hạn, quy định của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), thì gia cầm sống phải được bảo đảm an toàn dịch bệnh và có giấy chứng nhận kiểm dịch xuất khẩu do cơ quan thú y có thẩm quyền của các nước nhập khẩu cấp và chứng nhận. Yêu cầu về vệ sinh thú y và ATVSTP để xuất khẩu sản phẩm thịt vào châu Âu (EU) phải tuân thủ Luật Thực phẩm của EU, Ủy ban châu Âu (EC). (Thịt và các sản phẩm từ thịt phải có giấy chứng nhận kiểm dịch do cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu cấp và Tổng cục Sức khỏe và An toàn thực phẩm thuộc EC công nhận) …
Các doanh nghiệp cho rằng để thực hiện các yêu cầu này, thì từng doanh nghiệp đơn lẻ sẽ không thể thực hiện được mà cần phải tạo ra các tập đoàn lớn, hoặc các vùng chăn nuôi quy mô, mô hình liên kết, để thực hiện trên phạm vi rộng lớn. Chẳng hạn, nếu đầu tư xử lý chất thải theo yêu cầu của các đối tác thì sẽ rất tốn kém và chỉ có thể thực hiện được nếu chăn nuôi tập trung và áp dụng các quy trình chăn nuôi khoa học, đồng bộ.
Việt Nam có tổng đàn heo đứng thứ 4 thế giới nhưng thịt heo của Việt Nam xuất khẩu < 5% tổng lượng thịt sản xuất. Với ngành gà, vịt cũng tương tự. Lý do mà các đối tác nhập khẩu đưa ra là quy trình sản xuất của Việt Nam còn lạc hậu, như tiêm nhiều vaccine, kháng sinh. Dịch bệnh còn nhiều, như heo tai xanh, cúm… Tuy nhiên, lợi thế được nhắc đến đó là Việt Nam phát triển ngành xuất khẩu gia cầm sau các nước thì sẽ có điều kiện rút ra những bài học bổ ích, có điều kiện tiếp cận với những công nghệ mới nhất. Do đó, nếu “chấn hưng” ngành chăn nuôi theo hướng xuất khẩu, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng các quy trình chăn nuôi hiện đại theo xu hướng bền vững, giảm phụ thuộc vào kháng sinh, giảm bệnh tật, tạo các giống lợn, gà, vịt có giá trị thương phẩm cao.
>> Các nhà nghiên cứu đều đánh giá lạc quan là với đầu tư mạnh trong thời gian vừa qua và trong những năm tới, trong khoảng 10 năm nữa thì các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam sẽ sớm đạt được các tiêu chí xuất khẩu khắt khe của các nước và khi đó, người tiêu dùng thế giới sẽ biết nhiều hơn đến các sản phẩm chăn nuôi từ Việt Nam.
 
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Việt Nam đã ký nhiều hiệp định thương mại tự do với các nước, đồng nghĩa với đó, thuế suất nhập khẩu các mặt hàng nông sản sẽ dần về 0%. Để bảo vệ ngành chăn nuôi trong nước cần đưa ra những tiêu chuẩn an toàn thực phẩm - hay còn gọi là hàng rào kỹ thuật. Trên thực tế, điều này chưa được cơ quan quản lý thực sự quan tâm.

Giá rẻ, chất lượng có cao?
Theo Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT trung bình mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng trên dưới 100.000 tấn thịt, trong đó, chủ yếu là thịt gà. Bên cạnh đó, có một lượng thịt bò - dạng nguyên con được doanh nghiệp nhập từ Úc để bán thay vì nhập thịt xẻ, thịt đông lạnh vốn chịu thuế cao.
Điều đáng nói là trong nhiều sản phẩm thịt gà, doanh nghiệp Việt Nam chọn nhập những sản phẩm mà những quốc gia khác xem là đồ bỏ đi như gà thải loại – dưới cái tên là gà dai nguyên con từ Hàn Quốc, chân gà, cánh gà, đùi gà từ Mỹ.
Ông Nguyễn Văn Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ cho biết, những sản phẩm thịt gà mà doanh nghiệp nhập về từ Mỹ, Hàn Quốc được mua với giá chỉ mười mấy ngàn đồng một kg. Xét về chi phí chăn nuôi, không có quốc gia nào có thể nuôi được gà với giá thành rẻ nhưng vậy. Giá rẻ chỉ có thể là một sản phẩm đi liền với chất lượng không đảm bảo.
Chất lượng thịt gà nhập khẩu lâu nay có đúng như lời ông Ngọc hay không? Theo phía Cơ quan Thú y vùng 6, Cục Thú y, Bộ NN&PTNT, trước khi một lô hàng thịt đông lạnh nhập về, cơ quan thú y sẽ tiến hành kiểm tra những tiêu chí về an toàn thực phẩm và những lô hàng nào được phép thông qua là đảm bảo tiêu chí.
trang trại chăn nuôi - chăn  nuôi
Việt Nam vẫn còn ít trang trại quy mô lớn Ảnh: Trần Út
Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do, nhiều dòng thuế nhập khẩu về 0%, vì thế, thời gian qua đã có những lo lắng về tính cạnh tranh của ngành chăn nuôi trong nước với sản phẩm nhập khẩu, đặc biệt là những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ ở vùng nông thôn vốn xem chăn nuôi là một trong những nguồn thu tài chính lớn của gia đình.
Vì thế, ngày 17/11, tại phiên chất vấn Thủ tướng Chính Phủ, trước câu hỏi của một đại biểu Quốc hội: Chính Phủ sẽ làm gì để bảo hộ ngành sản xuất trong nước, người đứng đầu Chính phủ cho biết, thời gian tới Việt Nam phải có hàng rào kỹ thuật để bảo vệ ngành sản xuất trong nước... Câu nói này, có thể là tín hiệu vui của ngành chăn nuôi ,vốn không có tính cạnh tranh mạnh như các mặt hàng nông sản khác của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng như hiện nay.
Thời gian qua, thị trường chăn nuôi trong nước nhiều phen điêu đứng vì thịt gà dai nhập khẩu từ Hàn Quốc, thịt gà đông lạnh nhập khẩu từ Mỹ được doanh nghiệp bán ra thị trường với giá khổng thể rẻ hơn. Tuy nhiên, danh sách quốc gia xuất khẩu thịt gà sang Việt Nam chưa dừng lại ở đó. Sau khi người Thái thâu tóm hệ thống bán lẻ Metro Việt Nam, nhiều mặt hàng của Thái đã tràn ngập trong hệ thống siêu thị này. Theo nguồn tin của chúng tôi, đã có ít nhất một công ty đang làm những thủ tục cần thiết để nhập khẩu thịt gà đông lạnh từ Thái Lan, sau đó, phân phối trong hệ thống siêu thị Metro. Nếu điều này xảy ra, mà thực tế sẽ xảy ra, ngành chăn nuôi trong nước sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều.
Tiêu chuẩn kỹ thuật chưa quá khắt khe
Hiện tại, việc làm thủ tục nhập khẩu thịt gà cũng không quá nhiêu khê, thậm chí là khá dễ dàng. Theo thông tin trên mục tư vấn hải quan trực tuyến của Tổng cục Hải quan, mặt hàng thịt gà khi làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam thuộc đối tượng hàng hóa phải kiểm dịch động vật trước khi thông quan theo quy định của Bộ NN&PTNT tại Quyết định số 45/2005/QĐ-BNN ngày 25/7/2005 và thuộc đối tượng phải thực hiện kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trước khi thông quan (đăng ký với Bộ NN&PTNT) theo Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm.
Theo Hiệp hội Căn nuôi Đông Nam bộ, những quy định nói trên, ở một khía cạnh nào đó là những quy định tối thiểu, chứ không thể gọi là quá khắt khe nên không làm khó cho doanh nghiệp khi làm thủ tục nhập khẩu thịt gà hay các mặt hàng thịt khác.
Thực tế, những quy định của Bộ NN&PTNT là những quy định cơ bản tối thiểu để đảm bảo sản phẩm thịt nhập khẩu đáp ứng an toàn thực phẩm chứ chưa quá khắt khe, lý do, là đi liền với những quyết định này, Việt Nam cũng đưa ra mức thuế nhập khẩu khá cao, dao động từ 15 - 20% giá trị sản phẩm.
Khi thuế cao, doanh nghiệp cảm thấy việc nhập về sẽ không có lãi, do đó, sẽ hạn chế nhập về bán thị trường nội địa. Còn nay, khi thuế nhập khẩu về gần 0% và sẽ 0% trong vài năm tới, lúc đó, doanh nghiệp sẽ nhập về và nhiều hơn. Nghĩa là để bảo vệ ngành chăn nuôi, những tiêu chí trong Quyết định 45 hay Nghị định 38 không thể bảo vệ người chăn nuôi trong nước.
Để bảo vệ hàng triệu hộ chăn nuôi, nên chăng, cơ quan quản lý cần có những hàng rào kỹ thuật khắt khe hơn để bảo vệ người chăn nuôi trong nước như lời Thủ tướng Chính phủ trả lời chất vấn Quốc hội trong kỳ họp năm nay. Việc đưa ra những quy định kỹ thuật, các nước đã làm, để bảo vệ người nông dân nước họ. Việt Nam với 60% là người dân sống ở nông thôn, chăn nuôi là một trong những nguồn thu nhập chính, hàng triệu hộ dân này sẽ không thể trụ vững, ảnh hưởng đến sinh kế nếu như Chính phủ không có những chính sách giúp đỡ, hỗ trợ họ để cải thiện nguồn thu nhập.
>> Theo Bộ NN&PTNT, tính đến 15/9, đàn trâu cả nước giảm 1% so với cùng kỳ năm 2015, đàn bò tăng 2% - 2,5%, đàn heo tăng 3,5 - 4%, đàn gia cầm tăng 5% - 5,5%. Sản lượng thịt heo hơi tăng 4,5%; sản lượng thịt gia cầm tăng 5,7%.     
 
ĐTK tổng hợp

Cần bảo vệ ngành chăn nuôi

Việt Nam đã ký nhiều hiệp định thương mại tự do với các nước, đồng nghĩa với đó, thuế suất nhập khẩu các mặt hàng nông sản sẽ dần về 0%. Để bảo vệ ngành chăn nuôi trong nước cần đưa ra những tiêu chuẩn an toàn thực phẩm - hay còn gọi là hàng rào kỹ thuật. Trên thực tế, điều này chưa được cơ quan quản lý thực sự quan tâm.

Giá rẻ, chất lượng có cao?
Theo Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT trung bình mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng trên dưới 100.000 tấn thịt, trong đó, chủ yếu là thịt gà. Bên cạnh đó, có một lượng thịt bò - dạng nguyên con được doanh nghiệp nhập từ Úc để bán thay vì nhập thịt xẻ, thịt đông lạnh vốn chịu thuế cao.
Điều đáng nói là trong nhiều sản phẩm thịt gà, doanh nghiệp Việt Nam chọn nhập những sản phẩm mà những quốc gia khác xem là đồ bỏ đi như gà thải loại – dưới cái tên là gà dai nguyên con từ Hàn Quốc, chân gà, cánh gà, đùi gà từ Mỹ.
Ông Nguyễn Văn Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ cho biết, những sản phẩm thịt gà mà doanh nghiệp nhập về từ Mỹ, Hàn Quốc được mua với giá chỉ mười mấy ngàn đồng một kg. Xét về chi phí chăn nuôi, không có quốc gia nào có thể nuôi được gà với giá thành rẻ nhưng vậy. Giá rẻ chỉ có thể là một sản phẩm đi liền với chất lượng không đảm bảo.
Chất lượng thịt gà nhập khẩu lâu nay có đúng như lời ông Ngọc hay không? Theo phía Cơ quan Thú y vùng 6, Cục Thú y, Bộ NN&PTNT, trước khi một lô hàng thịt đông lạnh nhập về, cơ quan thú y sẽ tiến hành kiểm tra những tiêu chí về an toàn thực phẩm và những lô hàng nào được phép thông qua là đảm bảo tiêu chí.
trang trại chăn nuôi - chăn  nuôi
Việt Nam vẫn còn ít trang trại quy mô lớn Ảnh: Trần Út
Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do, nhiều dòng thuế nhập khẩu về 0%, vì thế, thời gian qua đã có những lo lắng về tính cạnh tranh của ngành chăn nuôi trong nước với sản phẩm nhập khẩu, đặc biệt là những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ ở vùng nông thôn vốn xem chăn nuôi là một trong những nguồn thu tài chính lớn của gia đình.
Vì thế, ngày 17/11, tại phiên chất vấn Thủ tướng Chính Phủ, trước câu hỏi của một đại biểu Quốc hội: Chính Phủ sẽ làm gì để bảo hộ ngành sản xuất trong nước, người đứng đầu Chính phủ cho biết, thời gian tới Việt Nam phải có hàng rào kỹ thuật để bảo vệ ngành sản xuất trong nước... Câu nói này, có thể là tín hiệu vui của ngành chăn nuôi ,vốn không có tính cạnh tranh mạnh như các mặt hàng nông sản khác của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng như hiện nay.
Thời gian qua, thị trường chăn nuôi trong nước nhiều phen điêu đứng vì thịt gà dai nhập khẩu từ Hàn Quốc, thịt gà đông lạnh nhập khẩu từ Mỹ được doanh nghiệp bán ra thị trường với giá khổng thể rẻ hơn. Tuy nhiên, danh sách quốc gia xuất khẩu thịt gà sang Việt Nam chưa dừng lại ở đó. Sau khi người Thái thâu tóm hệ thống bán lẻ Metro Việt Nam, nhiều mặt hàng của Thái đã tràn ngập trong hệ thống siêu thị này. Theo nguồn tin của chúng tôi, đã có ít nhất một công ty đang làm những thủ tục cần thiết để nhập khẩu thịt gà đông lạnh từ Thái Lan, sau đó, phân phối trong hệ thống siêu thị Metro. Nếu điều này xảy ra, mà thực tế sẽ xảy ra, ngành chăn nuôi trong nước sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều.
Tiêu chuẩn kỹ thuật chưa quá khắt khe
Hiện tại, việc làm thủ tục nhập khẩu thịt gà cũng không quá nhiêu khê, thậm chí là khá dễ dàng. Theo thông tin trên mục tư vấn hải quan trực tuyến của Tổng cục Hải quan, mặt hàng thịt gà khi làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam thuộc đối tượng hàng hóa phải kiểm dịch động vật trước khi thông quan theo quy định của Bộ NN&PTNT tại Quyết định số 45/2005/QĐ-BNN ngày 25/7/2005 và thuộc đối tượng phải thực hiện kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trước khi thông quan (đăng ký với Bộ NN&PTNT) theo Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm.
Theo Hiệp hội Căn nuôi Đông Nam bộ, những quy định nói trên, ở một khía cạnh nào đó là những quy định tối thiểu, chứ không thể gọi là quá khắt khe nên không làm khó cho doanh nghiệp khi làm thủ tục nhập khẩu thịt gà hay các mặt hàng thịt khác.
Thực tế, những quy định của Bộ NN&PTNT là những quy định cơ bản tối thiểu để đảm bảo sản phẩm thịt nhập khẩu đáp ứng an toàn thực phẩm chứ chưa quá khắt khe, lý do, là đi liền với những quyết định này, Việt Nam cũng đưa ra mức thuế nhập khẩu khá cao, dao động từ 15 - 20% giá trị sản phẩm.
Khi thuế cao, doanh nghiệp cảm thấy việc nhập về sẽ không có lãi, do đó, sẽ hạn chế nhập về bán thị trường nội địa. Còn nay, khi thuế nhập khẩu về gần 0% và sẽ 0% trong vài năm tới, lúc đó, doanh nghiệp sẽ nhập về và nhiều hơn. Nghĩa là để bảo vệ ngành chăn nuôi, những tiêu chí trong Quyết định 45 hay Nghị định 38 không thể bảo vệ người chăn nuôi trong nước.
Để bảo vệ hàng triệu hộ chăn nuôi, nên chăng, cơ quan quản lý cần có những hàng rào kỹ thuật khắt khe hơn để bảo vệ người chăn nuôi trong nước như lời Thủ tướng Chính phủ trả lời chất vấn Quốc hội trong kỳ họp năm nay. Việc đưa ra những quy định kỹ thuật, các nước đã làm, để bảo vệ người nông dân nước họ. Việt Nam với 60% là người dân sống ở nông thôn, chăn nuôi là một trong những nguồn thu nhập chính, hàng triệu hộ dân này sẽ không thể trụ vững, ảnh hưởng đến sinh kế nếu như Chính phủ không có những chính sách giúp đỡ, hỗ trợ họ để cải thiện nguồn thu nhập.
>> Theo Bộ NN&PTNT, tính đến 15/9, đàn trâu cả nước giảm 1% so với cùng kỳ năm 2015, đàn bò tăng 2% - 2,5%, đàn heo tăng 3,5 - 4%, đàn gia cầm tăng 5% - 5,5%. Sản lượng thịt heo hơi tăng 4,5%; sản lượng thịt gia cầm tăng 5,7%.     
 
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Bộ NN&PTNT cho biết kim ngạch xuất khẩu (XK) nông lâm thuỷ sản tháng 11/2016 ước đạt 2,69 tỷ USD, đưa tổng giá trị XK 11 tháng qua đạt 29,1 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong đó, giá trị XK các mặt hàng nông sản chính ước đạt 13,7 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2015; giá trị XK thuỷ sản ước đạt 6,4 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2015; giá trị XK các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 6,5 tỷ USD, tăng 0,8% với cùng kỳ năm 2015. 

Kết quả cụ thể một số mặt hàng chủ yếu như sau: 

Khối lượng gạo XK tháng 11/2016 ước đạt 353.000 tấn với giá trị 156 triệu USD, đưa khối lượng XK gạo 11 tháng đầu năm 2016 ước đạt 4,54 triệu tấn với kim ngạch 2 tỷ USD, giảm 25% về khối lượng và giảm 20,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. 

XK cà phê trong tháng 11 ước đạt 101.000 tấn với giá trị đạt 218 triệu USD, đưa khối lượng XK cà phê 11 tháng qua đạt 1,6 triệu tấn và 2,98 tỷ USD, tăng 36,1% về khối lượng và tăng 24,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. 

Ước tính khối lượng XK cao su tháng 11 đạt 117.000 tấn với giá trị 165 triệu USD, đưa khối lượng XK cao su 11 tháng đầu năm 2016 đạt 1,1 triệu tấn và 1,43 tỷ USD, tăng 12,3% về khối lượng và tăng 4,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. 

Khối lượng XK chè tháng 11 ước đạt 12.000 tấn với giá trị đạt 21 triệu USD, đưa khối lượng XK chè 11 tháng qua đạt 118.000 tấn và 197 triệu USD, tăng 7,1% về khối lượng và tăng 4,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. 

Khối lượng hạt điều XK tháng 11ước đạt 29.000 tấn với giá trị 257 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu hạt điều 11 tháng đầu năm 2016 đạt 320.000 tấn với kim ngạch 2,59 tỷ USD, tăng 6,2% về khối lượng và tăng 18,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. 

Ước giá trị XK gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 11 đạt 597 triệu USD, đưa giá trị XK gỗ và các sản phẩm gỗ 11 tháng đầu năm 2016 đạt 6,2 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2015. 

Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc là 3 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2016, chiếm 69% tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. 

Giá trị XK thủy sản tháng 11 ước đạt 661 triệu USD, đưa giá trị XK thủy sản 11 tháng đầu năm 2016 đạt 6,4 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2015. 
Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2016, chiếm 54,1% tổng giá trị XK thủy sản. 

Khối lượng XK sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 11 ước đạt 294.000 tấn với giá trị đạt 80 triệu USD, đưa khối lượng XK sắn và các phẩm từ sắn 11 tháng đầu năm đạt gần 3,3 triệu tấn và 896 triệu USD. 

 
Nguồn Báo Chính phủ - ĐTK tổng hợp

XK nông lâm thủy sản 11 tháng tăng 5,9%

Bộ NN&PTNT cho biết kim ngạch xuất khẩu (XK) nông lâm thuỷ sản tháng 11/2016 ước đạt 2,69 tỷ USD, đưa tổng giá trị XK 11 tháng qua đạt 29,1 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong đó, giá trị XK các mặt hàng nông sản chính ước đạt 13,7 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2015; giá trị XK thuỷ sản ước đạt 6,4 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2015; giá trị XK các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 6,5 tỷ USD, tăng 0,8% với cùng kỳ năm 2015. 

Kết quả cụ thể một số mặt hàng chủ yếu như sau: 

Khối lượng gạo XK tháng 11/2016 ước đạt 353.000 tấn với giá trị 156 triệu USD, đưa khối lượng XK gạo 11 tháng đầu năm 2016 ước đạt 4,54 triệu tấn với kim ngạch 2 tỷ USD, giảm 25% về khối lượng và giảm 20,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. 

XK cà phê trong tháng 11 ước đạt 101.000 tấn với giá trị đạt 218 triệu USD, đưa khối lượng XK cà phê 11 tháng qua đạt 1,6 triệu tấn và 2,98 tỷ USD, tăng 36,1% về khối lượng và tăng 24,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. 

Ước tính khối lượng XK cao su tháng 11 đạt 117.000 tấn với giá trị 165 triệu USD, đưa khối lượng XK cao su 11 tháng đầu năm 2016 đạt 1,1 triệu tấn và 1,43 tỷ USD, tăng 12,3% về khối lượng và tăng 4,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. 

Khối lượng XK chè tháng 11 ước đạt 12.000 tấn với giá trị đạt 21 triệu USD, đưa khối lượng XK chè 11 tháng qua đạt 118.000 tấn và 197 triệu USD, tăng 7,1% về khối lượng và tăng 4,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. 

Khối lượng hạt điều XK tháng 11ước đạt 29.000 tấn với giá trị 257 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu hạt điều 11 tháng đầu năm 2016 đạt 320.000 tấn với kim ngạch 2,59 tỷ USD, tăng 6,2% về khối lượng và tăng 18,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. 

Ước giá trị XK gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 11 đạt 597 triệu USD, đưa giá trị XK gỗ và các sản phẩm gỗ 11 tháng đầu năm 2016 đạt 6,2 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2015. 

Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc là 3 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2016, chiếm 69% tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. 

Giá trị XK thủy sản tháng 11 ước đạt 661 triệu USD, đưa giá trị XK thủy sản 11 tháng đầu năm 2016 đạt 6,4 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2015. 
Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2016, chiếm 54,1% tổng giá trị XK thủy sản. 

Khối lượng XK sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 11 ước đạt 294.000 tấn với giá trị đạt 80 triệu USD, đưa khối lượng XK sắn và các phẩm từ sắn 11 tháng đầu năm đạt gần 3,3 triệu tấn và 896 triệu USD. 

 
Nguồn Báo Chính phủ - ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Nhiều ý kiến cho rằng, thuế thu nhập giảm xuống còn 15% và 17% chỉ có tác dụng khi phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh có lãi.

Dự thảo Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo được Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa 14 vừa qua, đã quy định lại mức thuế thu nhập mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải chịu thấp hơn 3 - 5% so với mức thuế phổ thông. Đây là động thái được cho là tích cực giúp doanh nghiệp giảm gánh nặng về thuế. Tuy nhiên, mức hỗ trợ này vẫn chưa đủ để kích thích sự phát triển của khối doanh nghiệp này.

Khoảng 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa làm ăn không có lãi hoặc sản xuất cầm chừng.
Khoảng 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa làm ăn không có lãi hoặc sản xuất cầm chừng.
Trong dự thảo Luật đã quy định lại, doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ có mức thuế thấp hơn mức thuế phổ thông 5%, còn doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được giảm 3%. Theo đó, mức thuế thu nhập đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là 17%, doanh nghiệp siêu nhỏ 15%. Với chính sách này, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng sẽ có một số vốn bổ sung để đầu tư sản xuất kinh doanh.

Ông Nguyễn Bá Toàn, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại đặc sản Việt Nam cho rằng, sự hỗ trợ về thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ 20% xuống còn 15-17% mặc dù không lớn lắm nhưng thực sự đó là sự hỗ trợ rất tốt cho các doanh nghiệp nhỏ. Khi mà sức – lực của các doanh nghiệp start-up còn hạn chế, cần sự nâng đỡ, hỗ trợ thì sự hỗ trợ này cũng rất tốt.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, thuế thu nhập giảm xuống còn 15 và 17% chỉ có tác dụng khi phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh có lãi. Trong khi thực tế, theo thống kê của Hiệp hội DNNVV Việt Nam, hiện chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa làm ăn có lãi (tương đương 200.000 doanh nghiệp), còn lại khoảng 70% doanh nghiệp thua lỗ, sản xuất cầm chừng. Do đó, với mức thuế suất nào thì phần lớn các doanh nghiệp này cũng không phải đóng thuế nên không có tác dụng nhiều đến doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho rằng, thuế thu nhập giảm xuống còn 17% vẫn chưa đủ, nên bổ sung thêm mức giảm 50% thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
“Giảm thuế có tác động rất lớn đến phát triển sản xuất và kinh doanh. Chính vì vậy, nên có một quan điểm tổng thể về thuế để có một hệ thống thuế riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hệ thống thuế này đủ để giúp cho những doanh nghiệp mới thành lập năm 2016 – 2020, tức là sau 5 năm có thể nâng cao quy mô lên gấp 2-3 lần và như vậy thì chúng ta mới có một hệ thống doanh nghiệp đủ mạnh để có thể đương đầu với thị trường trong nước và thị trường quốc tế trong thời kì hội nhập”, ông Nguyễn Mại cho biết.
Còn theo ông Tô Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội DNNVV Việt Nam, các chính sách hỗ trợ của nhà nước cần tập trung vào các biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Xây dựng chính sách thuế minh bạch, tạo thuận lợi doanh nghiệp, đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được thực hiện xuyên suốt với nhiều biện pháp khác nhau.

“Ngoài chính sách giảm thuế nên có chính sách khai báo thuế, thủ tục kê khai thuế của DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ cần giản đơn hơn, để dễ thực hiện và tuân thủ hơn. Chính sách tín dụng cũng cần thay đổi, chính sách về mặt bằng sản xuất, đặc biệt đối với đơn vị sản xuất kinh doanh, cần có sự quan tâm hơn để cho doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận được với mặt bằng phục vụ cho sản xuất được dễ dàng. Tổ chức những khu công nghiệp, cụm công nghiệp dành riêng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa với diện tích mặt bằng phù hợp với họ”, ông Nam chỉ rõ.
Theo các chuyên gia kinh tế, hỗ trợ giảm nghĩa vụ nộp ngân sách (thông qua việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp) hay cắt bỏ loại hỗ trợ giảm chi phí (thông qua việc giảm lãi suất) giống như việc cho “con cá” chứ không phải cho “cần câu”.
Về lâu dài, Chính phủ cần hỗ trợ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua quy định trình tự, thủ tục, chế độ kế toán theo hướng đơn giản. Bên cạnh đó, cần gia tăng hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, tiếp cận đổi mới khoa học công nghệ, hỗ trợ xúc tiến mở rộng thị trường, để hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp ngày một hiệu quả, chất lượng./.
ĐTK tổng hợp

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa - Giảm thuế liệu đã đủ?

Nhiều ý kiến cho rằng, thuế thu nhập giảm xuống còn 15% và 17% chỉ có tác dụng khi phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh có lãi.

Dự thảo Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo được Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa 14 vừa qua, đã quy định lại mức thuế thu nhập mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải chịu thấp hơn 3 - 5% so với mức thuế phổ thông. Đây là động thái được cho là tích cực giúp doanh nghiệp giảm gánh nặng về thuế. Tuy nhiên, mức hỗ trợ này vẫn chưa đủ để kích thích sự phát triển của khối doanh nghiệp này.

Khoảng 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa làm ăn không có lãi hoặc sản xuất cầm chừng.
Khoảng 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa làm ăn không có lãi hoặc sản xuất cầm chừng.
Trong dự thảo Luật đã quy định lại, doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ có mức thuế thấp hơn mức thuế phổ thông 5%, còn doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được giảm 3%. Theo đó, mức thuế thu nhập đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là 17%, doanh nghiệp siêu nhỏ 15%. Với chính sách này, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng sẽ có một số vốn bổ sung để đầu tư sản xuất kinh doanh.

Ông Nguyễn Bá Toàn, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại đặc sản Việt Nam cho rằng, sự hỗ trợ về thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ 20% xuống còn 15-17% mặc dù không lớn lắm nhưng thực sự đó là sự hỗ trợ rất tốt cho các doanh nghiệp nhỏ. Khi mà sức – lực của các doanh nghiệp start-up còn hạn chế, cần sự nâng đỡ, hỗ trợ thì sự hỗ trợ này cũng rất tốt.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, thuế thu nhập giảm xuống còn 15 và 17% chỉ có tác dụng khi phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh có lãi. Trong khi thực tế, theo thống kê của Hiệp hội DNNVV Việt Nam, hiện chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa làm ăn có lãi (tương đương 200.000 doanh nghiệp), còn lại khoảng 70% doanh nghiệp thua lỗ, sản xuất cầm chừng. Do đó, với mức thuế suất nào thì phần lớn các doanh nghiệp này cũng không phải đóng thuế nên không có tác dụng nhiều đến doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho rằng, thuế thu nhập giảm xuống còn 17% vẫn chưa đủ, nên bổ sung thêm mức giảm 50% thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
“Giảm thuế có tác động rất lớn đến phát triển sản xuất và kinh doanh. Chính vì vậy, nên có một quan điểm tổng thể về thuế để có một hệ thống thuế riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hệ thống thuế này đủ để giúp cho những doanh nghiệp mới thành lập năm 2016 – 2020, tức là sau 5 năm có thể nâng cao quy mô lên gấp 2-3 lần và như vậy thì chúng ta mới có một hệ thống doanh nghiệp đủ mạnh để có thể đương đầu với thị trường trong nước và thị trường quốc tế trong thời kì hội nhập”, ông Nguyễn Mại cho biết.
Còn theo ông Tô Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội DNNVV Việt Nam, các chính sách hỗ trợ của nhà nước cần tập trung vào các biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Xây dựng chính sách thuế minh bạch, tạo thuận lợi doanh nghiệp, đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được thực hiện xuyên suốt với nhiều biện pháp khác nhau.

“Ngoài chính sách giảm thuế nên có chính sách khai báo thuế, thủ tục kê khai thuế của DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ cần giản đơn hơn, để dễ thực hiện và tuân thủ hơn. Chính sách tín dụng cũng cần thay đổi, chính sách về mặt bằng sản xuất, đặc biệt đối với đơn vị sản xuất kinh doanh, cần có sự quan tâm hơn để cho doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận được với mặt bằng phục vụ cho sản xuất được dễ dàng. Tổ chức những khu công nghiệp, cụm công nghiệp dành riêng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa với diện tích mặt bằng phù hợp với họ”, ông Nam chỉ rõ.
Theo các chuyên gia kinh tế, hỗ trợ giảm nghĩa vụ nộp ngân sách (thông qua việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp) hay cắt bỏ loại hỗ trợ giảm chi phí (thông qua việc giảm lãi suất) giống như việc cho “con cá” chứ không phải cho “cần câu”.
Về lâu dài, Chính phủ cần hỗ trợ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua quy định trình tự, thủ tục, chế độ kế toán theo hướng đơn giản. Bên cạnh đó, cần gia tăng hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, tiếp cận đổi mới khoa học công nghệ, hỗ trợ xúc tiến mở rộng thị trường, để hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp ngày một hiệu quả, chất lượng./.
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Các nhà khoa học mới đây đã phát hiện ra rằng, sử dụng các chuỗi axit béo trung bình có trong dầu dừa bổ sung vào khẩu phần thức ăn có thể cải thiện được hiệu suất và sức khỏe của heo con.

Vai trò của chuỗi axit béo trung bình (MCFAs)
Từ năm 2006, lệnh cấm sử dụng các loại kháng sinh làm chất kích thích tăng trưởng trong chăn nuôi được ban hành. Từ đó, việc tìm kiếm các loại dinh dưỡng và các loại thuốc có khả năng thay thế nhằm tối ưu hóa quá trình chuyển đổi trong cai sữa cho heo con và giúp giảm thiểu bệnh được ruột luôn được quan tâm. Một số sản phẩm được chọn làm thay thế như các enzyme, probiotic, prebiotic, các axit hữu cơ… có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc được kết hợp với nhau để cải thiện sức khỏe cho vật nuôi; chủ yếu thông quá quá trình axit hóa của đường tiêu hóa hoặc kiểm soát những vi khuẩn có khả năng gây bệnh. Do đó, các chuỗi axit béo trung bình (MCFAs) đã xuất hiện để giảm những tác động tiêu cực liên quan đến giai đoạn sau cai sữa của heo con.
MCFAs được xem như một phương pháp thay thế kháng sinh, gồm các axit béo bão hòa như axit caproic (C6: 0), acid caprylic (C8: 0), acid capric (C10: 0) và axit lauric (C12: 0). Trong tự nhiên, MCFAs có nhiều trong dầu dừa và hạt cọ, chúng được xem như một anion có tác dụng chính trong việc kháng khuẩn.
MCFAs sẽ tác động vào vách tế bào vi khuẩn và màng tế bào chất, ức chế lipase của vi khuẩn, tạo nên cơ chế bảo vệ niêm mạc và thành ruột. MCFAs còn có khả năng kích hoạt các enzyme có khả năng tự phân hủy vi khuẩn đóng vai trò vào các hoạt động chống lại mầm bệnh. Ngoài ra, sự hấp thụ các axit béo không phân ly vào tế bào vi khuẩn có tác dụng gây độc tế bào. Các MCFAs được tách ra thành proton và anion trong tế bào chất cơ bản của tế bào; từ đó, làm giảm độ pH, enzyme trong tế bào chất bị mất đi hoạt tính làm cho tế bào vi khuẩn bị chết và tăng khả năng kháng khuẩn của MCFAs. Như vậy, có thể thấy MCFAs có tác dụng bảo vệ cấu trúc đường ruột và có tác dụng miễn dịch điều chỉnh của heo dựa trên các nghiên cứu; tuy nhiên trong cơ thể của heo lại thiếu MCFAs.
Axit lauric
Axit lauric là axit béo chính có trong dầu dừa, chiếm 45 - 53% các axit béo tổng thể; đồng thời quy định các tính chất của dầu dừa. Axit lauric có hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất trong số tất các các axit béo bão hòa, có khả năng chống lại vi khuẩn gram dương và một số virus, nấm. Theo các nghiên cứu đã được công bố, dưới đây là những vi khuẩn gram dương đã bị ức chế bởi axit lauric: Staphylococcus aureus, S. epidermidis, Streptococcus beta tán huyết (nhóm A và không thuộc nhóm A), nhóm D liên cầu, Bacillus subitilis, Sarcina lutea, Micrococcus sp., Nocardia tiểu hành tinh, Corynebacterium sp., Pneumococcus và Candida albicans. Đối với Clostridium perfringens, axit lauric cho thấy hoạt tính kháng khuẩn cao nhất, tiếp theo là myristic, capric, oleic và axit caprylic.
Hiệu quả kiểm soát vi khuẩn gây bệnh
Một nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các muối natri có gốc của các axit béo có trong dầu dừa để chống lại vi khuẩn Salmonella Typhimurium ở heo con cai sữa. Thí nghiệm gồm 48 con heo con 28 ngày tuổi được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm, thí nghiệm được lặp lại 8 lần:
Nhóm 1: Heo con được cho ăn tự do với chế độ ăn uống cơ bản không bổ sung thêm muối natri của các axit béo từ dầu dừa.
Nhóm 2: Heo con được cho ăn với chế độ ăn uống được bổ sung thêm 3 kg muối natri axit béo của dầu dừa/tấn thức ăn.
Sau 1 tuần thích ứng, các nhóm thí nghiệm được gây nhiễm Salmonella Typhimurium (1,2 x 108 CFU/g). Sau khi tiêm, lượng thức ăn và trọng lượng cơ thể được tiến hành theo dõi. Đồng thời, tiến hành kiểm tra nhiệt độ trực tràng và phân (trước và 2 ngày sau khi cấy) để đánh giá. Vào ngày thứ 4 và thứ 8 sau khi cấy, mỗi con heo con sẽ được lấy mẫu tại manh tràng để đếm mật độ vi khuẩn Salmonella. Trong thời gian thử nghiệm, không có sự khác biệt khi quan sát các thông số sản xuất, lượng phân thải hay nhiệt độ trực tràng ở cả 2 nhóm. Tuy nhiên, số lượng Salmonella bị tiêu diệt có xu hướng cao hơn ở nhóm 2 ở ngày thứ 4 sau khi gây nhiễm và có xu hướng đạt ý nghĩa thống kê ở ngày thứ 8 sau khi gây nhiễm. Các phân tích bán định lượng vi khuẩn Salmonella trong mẫu dương tính cho thấy rằng số lượng các vi khuẩn cũng có xu hướng giảm trong nhóm thứ 2 (Hình 1).
kiểm soát bệnh cho heo - chăn nuôi
Cải thiện hiệu suất và sức khỏe đường ruột
Một nghiên cứu khác được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các muối natri trên các axit béo của dầu dừa đã chưng cất lên hiệu suất và ruột ở heo con. Thí nghiệm gồm 48 con heo con cai sữa lúc 21 ngày tuổi (7,1 ± 0,15 kg) được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm, với 6 lần nhắc lại ở mỗi nhóm:
Nhóm 1: Chế độ thức ăn bổ sung không có muối natri của axit béo trong dầu dừa.
Nhóm 2: Chế độ thức ăn bổ sung có thêm 3 kg muối natri của axit béo trong dầu dừa/tấn thức ăn, trong suốt 2 tuần (21 - 35 ngày tuổi).
Các chỉ tiêu như tổng trọng lượng cơ thể cuối thử nghiệm (BW); tăng trọng trung bình hằng ngày (ADG); lượng thức ăn trung bình hàng ngày (ADFI) và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) sẽ được ghi chép. Mỗi con heo con sẽ được lấy mẫu tại hồi tràng và manh tràng để phân tích vi sinh đường ruột.
So với nhóm 1, heo con ở nhóm 2 có xu hướng nặng hơn 11% và cho thấy sự cải thiện trong FCR (1,35 và 2,32). Hơn nữa, ADG ở nhóm 2 cũng cao hơn ADG (63 g/ngày) và ADFI (24 g/ngày) so với nhóm 1 (Bảng 2). Đồng thời, nhóm 2 cũng có số lượng vi khuẩn coliforms, E. coli và Enterobacteria ở hồi tràng và manh tràng giảm đáng kể (Hình 2).
kiểm soát bệnh cho heo bằng dầu dừa - chăn nuôi
Kết luận
Việc sử dụng các muối natri của axit béo dừa chưng cất ở 3 kg/tấn thức ăn làm giảm sự xâm nhập của vi khuẩn Salmonella vào ruột ở heo con. Đồng thời, cải thiện năng suất thông số và gây ra một tác động tích cực về sức khỏe đường ruột, điều chỉnh các vi khuẩn đường ruột ở heo con.
 
ĐTK tổng hợp

Kiểm soát mầm bệnh ở heo bằng dầu dừa

Các nhà khoa học mới đây đã phát hiện ra rằng, sử dụng các chuỗi axit béo trung bình có trong dầu dừa bổ sung vào khẩu phần thức ăn có thể cải thiện được hiệu suất và sức khỏe của heo con.

Vai trò của chuỗi axit béo trung bình (MCFAs)
Từ năm 2006, lệnh cấm sử dụng các loại kháng sinh làm chất kích thích tăng trưởng trong chăn nuôi được ban hành. Từ đó, việc tìm kiếm các loại dinh dưỡng và các loại thuốc có khả năng thay thế nhằm tối ưu hóa quá trình chuyển đổi trong cai sữa cho heo con và giúp giảm thiểu bệnh được ruột luôn được quan tâm. Một số sản phẩm được chọn làm thay thế như các enzyme, probiotic, prebiotic, các axit hữu cơ… có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc được kết hợp với nhau để cải thiện sức khỏe cho vật nuôi; chủ yếu thông quá quá trình axit hóa của đường tiêu hóa hoặc kiểm soát những vi khuẩn có khả năng gây bệnh. Do đó, các chuỗi axit béo trung bình (MCFAs) đã xuất hiện để giảm những tác động tiêu cực liên quan đến giai đoạn sau cai sữa của heo con.
MCFAs được xem như một phương pháp thay thế kháng sinh, gồm các axit béo bão hòa như axit caproic (C6: 0), acid caprylic (C8: 0), acid capric (C10: 0) và axit lauric (C12: 0). Trong tự nhiên, MCFAs có nhiều trong dầu dừa và hạt cọ, chúng được xem như một anion có tác dụng chính trong việc kháng khuẩn.
MCFAs sẽ tác động vào vách tế bào vi khuẩn và màng tế bào chất, ức chế lipase của vi khuẩn, tạo nên cơ chế bảo vệ niêm mạc và thành ruột. MCFAs còn có khả năng kích hoạt các enzyme có khả năng tự phân hủy vi khuẩn đóng vai trò vào các hoạt động chống lại mầm bệnh. Ngoài ra, sự hấp thụ các axit béo không phân ly vào tế bào vi khuẩn có tác dụng gây độc tế bào. Các MCFAs được tách ra thành proton và anion trong tế bào chất cơ bản của tế bào; từ đó, làm giảm độ pH, enzyme trong tế bào chất bị mất đi hoạt tính làm cho tế bào vi khuẩn bị chết và tăng khả năng kháng khuẩn của MCFAs. Như vậy, có thể thấy MCFAs có tác dụng bảo vệ cấu trúc đường ruột và có tác dụng miễn dịch điều chỉnh của heo dựa trên các nghiên cứu; tuy nhiên trong cơ thể của heo lại thiếu MCFAs.
Axit lauric
Axit lauric là axit béo chính có trong dầu dừa, chiếm 45 - 53% các axit béo tổng thể; đồng thời quy định các tính chất của dầu dừa. Axit lauric có hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất trong số tất các các axit béo bão hòa, có khả năng chống lại vi khuẩn gram dương và một số virus, nấm. Theo các nghiên cứu đã được công bố, dưới đây là những vi khuẩn gram dương đã bị ức chế bởi axit lauric: Staphylococcus aureus, S. epidermidis, Streptococcus beta tán huyết (nhóm A và không thuộc nhóm A), nhóm D liên cầu, Bacillus subitilis, Sarcina lutea, Micrococcus sp., Nocardia tiểu hành tinh, Corynebacterium sp., Pneumococcus và Candida albicans. Đối với Clostridium perfringens, axit lauric cho thấy hoạt tính kháng khuẩn cao nhất, tiếp theo là myristic, capric, oleic và axit caprylic.
Hiệu quả kiểm soát vi khuẩn gây bệnh
Một nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các muối natri có gốc của các axit béo có trong dầu dừa để chống lại vi khuẩn Salmonella Typhimurium ở heo con cai sữa. Thí nghiệm gồm 48 con heo con 28 ngày tuổi được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm, thí nghiệm được lặp lại 8 lần:
Nhóm 1: Heo con được cho ăn tự do với chế độ ăn uống cơ bản không bổ sung thêm muối natri của các axit béo từ dầu dừa.
Nhóm 2: Heo con được cho ăn với chế độ ăn uống được bổ sung thêm 3 kg muối natri axit béo của dầu dừa/tấn thức ăn.
Sau 1 tuần thích ứng, các nhóm thí nghiệm được gây nhiễm Salmonella Typhimurium (1,2 x 108 CFU/g). Sau khi tiêm, lượng thức ăn và trọng lượng cơ thể được tiến hành theo dõi. Đồng thời, tiến hành kiểm tra nhiệt độ trực tràng và phân (trước và 2 ngày sau khi cấy) để đánh giá. Vào ngày thứ 4 và thứ 8 sau khi cấy, mỗi con heo con sẽ được lấy mẫu tại manh tràng để đếm mật độ vi khuẩn Salmonella. Trong thời gian thử nghiệm, không có sự khác biệt khi quan sát các thông số sản xuất, lượng phân thải hay nhiệt độ trực tràng ở cả 2 nhóm. Tuy nhiên, số lượng Salmonella bị tiêu diệt có xu hướng cao hơn ở nhóm 2 ở ngày thứ 4 sau khi gây nhiễm và có xu hướng đạt ý nghĩa thống kê ở ngày thứ 8 sau khi gây nhiễm. Các phân tích bán định lượng vi khuẩn Salmonella trong mẫu dương tính cho thấy rằng số lượng các vi khuẩn cũng có xu hướng giảm trong nhóm thứ 2 (Hình 1).
kiểm soát bệnh cho heo - chăn nuôi
Cải thiện hiệu suất và sức khỏe đường ruột
Một nghiên cứu khác được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các muối natri trên các axit béo của dầu dừa đã chưng cất lên hiệu suất và ruột ở heo con. Thí nghiệm gồm 48 con heo con cai sữa lúc 21 ngày tuổi (7,1 ± 0,15 kg) được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm, với 6 lần nhắc lại ở mỗi nhóm:
Nhóm 1: Chế độ thức ăn bổ sung không có muối natri của axit béo trong dầu dừa.
Nhóm 2: Chế độ thức ăn bổ sung có thêm 3 kg muối natri của axit béo trong dầu dừa/tấn thức ăn, trong suốt 2 tuần (21 - 35 ngày tuổi).
Các chỉ tiêu như tổng trọng lượng cơ thể cuối thử nghiệm (BW); tăng trọng trung bình hằng ngày (ADG); lượng thức ăn trung bình hàng ngày (ADFI) và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) sẽ được ghi chép. Mỗi con heo con sẽ được lấy mẫu tại hồi tràng và manh tràng để phân tích vi sinh đường ruột.
So với nhóm 1, heo con ở nhóm 2 có xu hướng nặng hơn 11% và cho thấy sự cải thiện trong FCR (1,35 và 2,32). Hơn nữa, ADG ở nhóm 2 cũng cao hơn ADG (63 g/ngày) và ADFI (24 g/ngày) so với nhóm 1 (Bảng 2). Đồng thời, nhóm 2 cũng có số lượng vi khuẩn coliforms, E. coli và Enterobacteria ở hồi tràng và manh tràng giảm đáng kể (Hình 2).
kiểm soát bệnh cho heo bằng dầu dừa - chăn nuôi
Kết luận
Việc sử dụng các muối natri của axit béo dừa chưng cất ở 3 kg/tấn thức ăn làm giảm sự xâm nhập của vi khuẩn Salmonella vào ruột ở heo con. Đồng thời, cải thiện năng suất thông số và gây ra một tác động tích cực về sức khỏe đường ruột, điều chỉnh các vi khuẩn đường ruột ở heo con.
 
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt cho rằng: Nếu chúng ta không có TPP sẽ có cái khác, hội nhập là một xu thế.

Tổng thống Mỹ đắc cử Donald Trump vừa tuyên bố sẽ ban hành sắc lệnh hành pháp về việc Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Việc Mỹ rút khỏi Hiệp định này sẽ tác động như thế nào đến nền kinh tế Việt Nam?
Bình luận về vấn đề này, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch InvestConsult Group cho rằng: Rất nhiều người Việt Nam tha thiết, đắm đuối với TPP và xem đó như một yếu tố sống còn đối với tương lai Việt Nam. Tôi cho rằng ông Trump làm cho rất nhiều quốc gia ngạc nhiên khi thấy có một cách tiếp cận quyền lợi của nước Mỹ ngược hẳn với những gì lâu nay khu vực này được tuyên truyền.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt
Nhiều người cho rằng không thừa nhận TPP là một cái sai nào đó của ông Donal Trump, nhưng cá nhân tôi không nghĩ như vậy. Các nhà chính trị có những cách tiếp cận khác nhau với quyền lợi của nước Mỹ. Cách của ông Donald Trump ngược với những cách tuyên truyền, vận động lâu nay mà chúng ta được nghe. Sự tuyên truyền ấy kỹ đến mức làm cho chúng ta đôi lúc xem TPP như yếu tố sống còn.
Phân tích vấn đề này, chuyên gia Nguyễn Trần Bạt cho rằng: Có một thời gian rất dài, nền kinh tế của chúng ta lấy xuất khẩu làm chiến lược số một, cho nên chúng ta dành nhiều sự chú ý đến khả năng xuất khẩu vào các thị trường khác và luôn luôn tìm cách liên kết Chính phủ chúng ta với các chính phủ khác để tạo ra các không gian kinh tế thiết kế bởi các chính phủ. TPP là một không gian kinh tế mới được thiết kế bởi các chính phủ.
Trước đây chúng ta tham gia đàm phán TPP trong không gian chính trị mà Obama là người giữ vai trò chủ chốt, nhưng bây giờ đã đến cuối nhiệm kỳ Obama, trên thực tế TPP đã tiềm ẩn các nguy cơ thất bại trông thấy. Báo chí Việt Nam, người Việt Nam cần có một thái độ khách quan, biết chờ đợi, biết phân tích.
Ông Donald Trump đã tuyên bố về thái độ dứt khoát của ông ấy đối với TPP, tôi nghĩ đấy là một dấu hiệu cho thấy ông ấy không muốn xã hội có những chờ đợi và chuyển dịch theo các khuynh hướng bất lợi, không muốn xã hội Mỹ và các nước trong khu vực mất thì giờ.
Nhiều người nhìn nhận sự biến dạng hiện nay chỉ là thái độ cá nhân của Donald Trump, tôi không nghĩ thế. Nó là một khuynh hướng khác của thế giới đối với toàn cầu hóa.
Chúng ta không thể nói một cách đơn giản về quyền lợi của Việt Nam khi quan sát hiện tượng này, bởi quyền lợi của Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn vào tình thế của thế giới. Mà tình thế thực sự của thế giới hiện nay không hoàn toàn đi theo ý muốn của Obama, Hillary Clinton hay Donald Trump. Chúng ta phải phân tích xem ai trong số họ có những quan điểm gần với thực tế nhất.
TPP chưa chết, bởi TPP là một tư tưởng, chưa phải là một tổ chức. Nếu đã trở thành một tổ chức thì nó có thể chết, nhưng vẫn còn là tư tưởng thì nó không chết. Nó có thể được bắt đầu lại bằng hình hài của tổ chức khác.
Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt khẳng định: “Chúng ta vẫn đang sống mà không có TPP. Bây giờ chúng ta muốn biến Việt Nam thành công xưởng thay thế Trung Quốc bởi vì giá nhân công Trung Quốc bây giờ đắt. Nhưng bây giờ Tổng thống đắc cử của nước Mỹ lại nói rằng đắt như giá nhân công ở Mỹ mà người Mỹ vẫn muốn đưa công xưởng trở về đất nước mình. Có nghĩa là giá nhân công ở các nước phương Tây đắt đến mức họ buộc phải di chuyển công xưởng sang Trung Quốc hay Việt Nam chỉ là một nhận thức chứ không phải là tất cả các nhận thức.
Khi người Trung Quốc mang công xưởng ra khỏi nước Mỹ thì thu nhập thuộc về người Trung Quốc và người Mỹ buộc phải mua hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc. Việc ấy có lợi gì cho Mỹ không và cái lợi về kinh tế có bù cho sự thất thiệt về chính trị khi người Trung Quốc nắm được giai cấp vô sản toàn cầu, bởi họ là lực lượng cơ bản của sản xuất?
Ông Nguyễn Trần Bạt nêu rõ: Không có một dân tộc nào nên người khi nó lệ thuộc vào sự mô tả của người khác về nó. TPP và tương lai Việt Nam là sự mô tả của người khác về Việt Nam, không phải là sự mô tả của người Việt. Phần lớn người Việt không biết TPP là gì?. Tức là Chính phủ luôn luôn đi đầu trong sự hội nhập còn nhân dân thì vẫn đang đứng ở bên ngoài không gian kinh tế mà Chính phủ hội nhập.
Nếu không có những yếu tố như TPP thì nền kinh tế Việt Nam làm như thế nào để phát triển? Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt cho rằng: Nếu chúng ta không có TPP sẽ có cái khác, hội nhập là một xu thế. Dù ai quan niệm hội nhập là cái gì đi nữa thì nó vẫn là một khuynh hướng của thế giới. Quá trình diễn đạt của Tổng thống Donald Trump chỉ giao động khe khẽ giữa hai khuynh hướng và cách nhau một góc rất hẹp.
Ông ta không phải là người bảo hộ mà là người hội nhập với sự cảnh giác về việc mất đi những lợi ích căn bản của nền kinh tế Mỹ và người Mỹ. Ông ta nhìn thấy khoảng cách bất hợp lý giữa những lợi ích mà các nhà kinh doanh lớn của Hoa Kỳ có được với lợi ích của những người lao động bình thường.
Để Việt Nam có tương lai, chúng ta buộc phải ý thức về việc xây dựng một chính phủ liêm chính. Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt cho hay: Chúng ta cứ bình tĩnh, không có TPP cũng không ai chết. Người ta sẽ làm quen dần dần một thực tế là không có TPP không chết. Và cũng không có chuyện chúng ta không còn quan hệ gần gũi với người Mỹ, bởi vì người Mỹ cần chúng ta. Người Mỹ đến đây từ khi chính phủ Mỹ còn cấm vận.
Việt Nam không đủ năng lực để xây dựng một ngành kinh tế có chất lượng động lực. Ngành kinh tế có chất lượng động lực phải nắm trong tay một lực lượng lãnh đạo có chất lượng động lực. Thực ra không thiếu ngành có thể trở thành động lực. Quan trọng hơn là phải xét xem nếu có thì nó là động lực cho cái gì?
Hiện nay tôi thấy có hai ngành kinh tế có thể làm động lực cho đồng bằng sông Cửu Long đó là cá và gạo, đó là hai ngành tự nhiên trở thành có chất lượng động lực. Cho nên để cái gì đó có thể trở thành động lực chúng ta buộc phải có một chính phủ khôn ngoan, thông thái, thận trọng, biết tìm ra yếu tố nào có thể hình thành giá trị chiến lược, giá trị động lực. Chất lượng động lực là kết quả của một sự lựa chọn chính xác, chuẩn bị lực lượng một cách thật sự và một thái độ khôn ngoan, kín đáo trong cách tiếp cận thị trường./.
ĐTK tổng hợp

Không có TPP, Việt Nam vẫn hội nhập bình thường

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt cho rằng: Nếu chúng ta không có TPP sẽ có cái khác, hội nhập là một xu thế.

Tổng thống Mỹ đắc cử Donald Trump vừa tuyên bố sẽ ban hành sắc lệnh hành pháp về việc Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Việc Mỹ rút khỏi Hiệp định này sẽ tác động như thế nào đến nền kinh tế Việt Nam?
Bình luận về vấn đề này, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch InvestConsult Group cho rằng: Rất nhiều người Việt Nam tha thiết, đắm đuối với TPP và xem đó như một yếu tố sống còn đối với tương lai Việt Nam. Tôi cho rằng ông Trump làm cho rất nhiều quốc gia ngạc nhiên khi thấy có một cách tiếp cận quyền lợi của nước Mỹ ngược hẳn với những gì lâu nay khu vực này được tuyên truyền.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt
Nhiều người cho rằng không thừa nhận TPP là một cái sai nào đó của ông Donal Trump, nhưng cá nhân tôi không nghĩ như vậy. Các nhà chính trị có những cách tiếp cận khác nhau với quyền lợi của nước Mỹ. Cách của ông Donald Trump ngược với những cách tuyên truyền, vận động lâu nay mà chúng ta được nghe. Sự tuyên truyền ấy kỹ đến mức làm cho chúng ta đôi lúc xem TPP như yếu tố sống còn.
Phân tích vấn đề này, chuyên gia Nguyễn Trần Bạt cho rằng: Có một thời gian rất dài, nền kinh tế của chúng ta lấy xuất khẩu làm chiến lược số một, cho nên chúng ta dành nhiều sự chú ý đến khả năng xuất khẩu vào các thị trường khác và luôn luôn tìm cách liên kết Chính phủ chúng ta với các chính phủ khác để tạo ra các không gian kinh tế thiết kế bởi các chính phủ. TPP là một không gian kinh tế mới được thiết kế bởi các chính phủ.
Trước đây chúng ta tham gia đàm phán TPP trong không gian chính trị mà Obama là người giữ vai trò chủ chốt, nhưng bây giờ đã đến cuối nhiệm kỳ Obama, trên thực tế TPP đã tiềm ẩn các nguy cơ thất bại trông thấy. Báo chí Việt Nam, người Việt Nam cần có một thái độ khách quan, biết chờ đợi, biết phân tích.
Ông Donald Trump đã tuyên bố về thái độ dứt khoát của ông ấy đối với TPP, tôi nghĩ đấy là một dấu hiệu cho thấy ông ấy không muốn xã hội có những chờ đợi và chuyển dịch theo các khuynh hướng bất lợi, không muốn xã hội Mỹ và các nước trong khu vực mất thì giờ.
Nhiều người nhìn nhận sự biến dạng hiện nay chỉ là thái độ cá nhân của Donald Trump, tôi không nghĩ thế. Nó là một khuynh hướng khác của thế giới đối với toàn cầu hóa.
Chúng ta không thể nói một cách đơn giản về quyền lợi của Việt Nam khi quan sát hiện tượng này, bởi quyền lợi của Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn vào tình thế của thế giới. Mà tình thế thực sự của thế giới hiện nay không hoàn toàn đi theo ý muốn của Obama, Hillary Clinton hay Donald Trump. Chúng ta phải phân tích xem ai trong số họ có những quan điểm gần với thực tế nhất.
TPP chưa chết, bởi TPP là một tư tưởng, chưa phải là một tổ chức. Nếu đã trở thành một tổ chức thì nó có thể chết, nhưng vẫn còn là tư tưởng thì nó không chết. Nó có thể được bắt đầu lại bằng hình hài của tổ chức khác.
Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt khẳng định: “Chúng ta vẫn đang sống mà không có TPP. Bây giờ chúng ta muốn biến Việt Nam thành công xưởng thay thế Trung Quốc bởi vì giá nhân công Trung Quốc bây giờ đắt. Nhưng bây giờ Tổng thống đắc cử của nước Mỹ lại nói rằng đắt như giá nhân công ở Mỹ mà người Mỹ vẫn muốn đưa công xưởng trở về đất nước mình. Có nghĩa là giá nhân công ở các nước phương Tây đắt đến mức họ buộc phải di chuyển công xưởng sang Trung Quốc hay Việt Nam chỉ là một nhận thức chứ không phải là tất cả các nhận thức.
Khi người Trung Quốc mang công xưởng ra khỏi nước Mỹ thì thu nhập thuộc về người Trung Quốc và người Mỹ buộc phải mua hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc. Việc ấy có lợi gì cho Mỹ không và cái lợi về kinh tế có bù cho sự thất thiệt về chính trị khi người Trung Quốc nắm được giai cấp vô sản toàn cầu, bởi họ là lực lượng cơ bản của sản xuất?
Ông Nguyễn Trần Bạt nêu rõ: Không có một dân tộc nào nên người khi nó lệ thuộc vào sự mô tả của người khác về nó. TPP và tương lai Việt Nam là sự mô tả của người khác về Việt Nam, không phải là sự mô tả của người Việt. Phần lớn người Việt không biết TPP là gì?. Tức là Chính phủ luôn luôn đi đầu trong sự hội nhập còn nhân dân thì vẫn đang đứng ở bên ngoài không gian kinh tế mà Chính phủ hội nhập.
Nếu không có những yếu tố như TPP thì nền kinh tế Việt Nam làm như thế nào để phát triển? Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt cho rằng: Nếu chúng ta không có TPP sẽ có cái khác, hội nhập là một xu thế. Dù ai quan niệm hội nhập là cái gì đi nữa thì nó vẫn là một khuynh hướng của thế giới. Quá trình diễn đạt của Tổng thống Donald Trump chỉ giao động khe khẽ giữa hai khuynh hướng và cách nhau một góc rất hẹp.
Ông ta không phải là người bảo hộ mà là người hội nhập với sự cảnh giác về việc mất đi những lợi ích căn bản của nền kinh tế Mỹ và người Mỹ. Ông ta nhìn thấy khoảng cách bất hợp lý giữa những lợi ích mà các nhà kinh doanh lớn của Hoa Kỳ có được với lợi ích của những người lao động bình thường.
Để Việt Nam có tương lai, chúng ta buộc phải ý thức về việc xây dựng một chính phủ liêm chính. Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt cho hay: Chúng ta cứ bình tĩnh, không có TPP cũng không ai chết. Người ta sẽ làm quen dần dần một thực tế là không có TPP không chết. Và cũng không có chuyện chúng ta không còn quan hệ gần gũi với người Mỹ, bởi vì người Mỹ cần chúng ta. Người Mỹ đến đây từ khi chính phủ Mỹ còn cấm vận.
Việt Nam không đủ năng lực để xây dựng một ngành kinh tế có chất lượng động lực. Ngành kinh tế có chất lượng động lực phải nắm trong tay một lực lượng lãnh đạo có chất lượng động lực. Thực ra không thiếu ngành có thể trở thành động lực. Quan trọng hơn là phải xét xem nếu có thì nó là động lực cho cái gì?
Hiện nay tôi thấy có hai ngành kinh tế có thể làm động lực cho đồng bằng sông Cửu Long đó là cá và gạo, đó là hai ngành tự nhiên trở thành có chất lượng động lực. Cho nên để cái gì đó có thể trở thành động lực chúng ta buộc phải có một chính phủ khôn ngoan, thông thái, thận trọng, biết tìm ra yếu tố nào có thể hình thành giá trị chiến lược, giá trị động lực. Chất lượng động lực là kết quả của một sự lựa chọn chính xác, chuẩn bị lực lượng một cách thật sự và một thái độ khôn ngoan, kín đáo trong cách tiếp cận thị trường./.
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..

Sáng 24/11, tại Hà Nội, 32 sản phẩm của 22 doanh nghiệp, đơn vị đã được trao tặng Bằng khen, cúp vàng, chứng nhận giải thưởng Danh hiệu “Sản phẩm vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam lần thứ nhất năm 2016”. Đây là hoạt động do Cục Chăn nuôi, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam phối hợp tổ chức.
 

Bà Hạ Thúy Hạnh, Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam trao bằng khen cho Top 50 doanh nghiệp đạt giải.
Dù mới tổ chức lần đầu tiên nhưng chương trình đã nhận được sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn, các trung tâm nghiên cứu, hộ chăn nuôi trong cả nước. Được biết, trong tổng số gần 200 sản phẩm của hơn 70 doanh nghiệp, đơn vị gửi hồ sơ tham gia, qua các vòng sơ loại, sơ khảo, chung khảo, Ban Tổ chức đã lựa chọn được 32 sản phẩm của 22 doanh nghiệp, đơn vị đã đạt được các tiêu chí đánh giá được Hội đồng bình chọn trao tặng Bằng khen, cúp vàng, chứng nhận giải thưởng Danh hiệu “Sản phẩm Vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam lần thứ nhất năm 2016”. Trong số đó, có 19 sản phẩm thuộc giống và sản phẩm chăn nuôi gia cầm, 7 sản phẩm thức ăn chăn nuôi gia cầm, 6 sản phẩm vắc-xin/thuốc thú y và thiết bị chăn nuôi gia cầm.
Ông Hoàng Thanh Vân, Cục trưởng Cục Chăn nuôi trao bằng khen, chứng nhận cho Top 10 doanh nghiệp đạt giải.
Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam khẳng định: Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống, chiếm vị trí hết sức quan trọng trong ngành nông nghiệp Việt Nam, không những góp phần giải quyết sinh kế cho hàng chục triệu hộ lao động ở nông thôn mà còn đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế của cả nước. Ước tính hàng năm, giá trị sản xuất của ngành đạt khoảng 23% tổng giá trị sản xuất của toàn ngành, chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 trong ngành sản xuất chăn nuôi. “Giải thưởng lần này là hoạt động chúng tôi mong muốn kịp thời ghi nhận và tôn vinh những sản phẩm chăn nuôi gia cầm (con giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, sản phẩm chế biến, mô hình điển hình…) của tập thể, doanh nghiệp, người chăn nuôi gia cầm trong cả nước. Đồng thời cũng qua đây, khẳng định chất lượng, thương hiệu sản phẩm và năng lực của ngành gia cầm Việt Nam, thúc đẩy phong trào lao động sáng tạo khoa học và kỹ thuật, không ngừng nghiên cứu, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần đẩy mạnh chất lượng ngành, tiến tới hội nhập quốc tế”- ông Sơn nói.
Kể từ tháng 5/2016, sau gần 6 tháng phát động, Hội đồng chấm giải Danh hiệu “Sản phẩm Vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam” đã làm việc tích cực, công tâm, minh bạch để chọn ra các sản phẩm đạt tiêu chí của Ban tổ chức. Hội đồng giám khảo gồm 17 chuyên gia đầu ngành thuộc các lĩnh vực: giống, thuốc thú y, thiết bị và thức ăn chăn nuôi... tham gia bình chọn các sản phẩm.

Theo ông Sơn, những sản phẩm đạt giải lần này đã đạt tiêu chí chất lượng cao, đạt nhiều chứng nhận chất lượng và các giải thưởng uy tín, có chỗ đứng trên thị trường, được người tiêu dùng đón nhận, doanh thu hàng năm đạt hàng chục tỷ đồng. “Danh hiệu Sản phẩm Vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam” đã ghi một dấu mốc đáng nhớ cho ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam năm qua, không chỉ kịp thời tôn vinh, khích lệ các điển hình chăn nuôi mà còn góp phần quảng bá, giới thiệu các sản phẩm uy tín như: Con giống được lai tạo có kế thừa – phát triển các giống gia cầm truyền thống; sản phẩm thức ăn nói không với chất cấm trong chăn nuôi; sản phẩm chế biến đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm; các loại thuốc giúp đàn gia cầm kháng bệnh, phát triển khỏe mạnh đồng thời không gây hại môi trường; dây chuyền máy móc, thiết bị hiện đại áp dụng công nghệ cao nhằm chuyên môn hóa, tăng năng suất chăn nuôi. Đồng thời, danh hiệu này cũng tạo đà cho phong trào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ chăn nuôi gia cầm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm gia cầm Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế”, ông Sơn nói.

 
ĐTK tổng hợp

32 sản phẩm đạt danh hiệu “Sản phẩm vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam” 2016

Sáng 24/11, tại Hà Nội, 32 sản phẩm của 22 doanh nghiệp, đơn vị đã được trao tặng Bằng khen, cúp vàng, chứng nhận giải thưởng Danh hiệu “Sản phẩm vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam lần thứ nhất năm 2016”. Đây là hoạt động do Cục Chăn nuôi, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam phối hợp tổ chức.
 

Bà Hạ Thúy Hạnh, Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam trao bằng khen cho Top 50 doanh nghiệp đạt giải.
Dù mới tổ chức lần đầu tiên nhưng chương trình đã nhận được sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn, các trung tâm nghiên cứu, hộ chăn nuôi trong cả nước. Được biết, trong tổng số gần 200 sản phẩm của hơn 70 doanh nghiệp, đơn vị gửi hồ sơ tham gia, qua các vòng sơ loại, sơ khảo, chung khảo, Ban Tổ chức đã lựa chọn được 32 sản phẩm của 22 doanh nghiệp, đơn vị đã đạt được các tiêu chí đánh giá được Hội đồng bình chọn trao tặng Bằng khen, cúp vàng, chứng nhận giải thưởng Danh hiệu “Sản phẩm Vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam lần thứ nhất năm 2016”. Trong số đó, có 19 sản phẩm thuộc giống và sản phẩm chăn nuôi gia cầm, 7 sản phẩm thức ăn chăn nuôi gia cầm, 6 sản phẩm vắc-xin/thuốc thú y và thiết bị chăn nuôi gia cầm.
Ông Hoàng Thanh Vân, Cục trưởng Cục Chăn nuôi trao bằng khen, chứng nhận cho Top 10 doanh nghiệp đạt giải.
Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam khẳng định: Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống, chiếm vị trí hết sức quan trọng trong ngành nông nghiệp Việt Nam, không những góp phần giải quyết sinh kế cho hàng chục triệu hộ lao động ở nông thôn mà còn đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế của cả nước. Ước tính hàng năm, giá trị sản xuất của ngành đạt khoảng 23% tổng giá trị sản xuất của toàn ngành, chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 trong ngành sản xuất chăn nuôi. “Giải thưởng lần này là hoạt động chúng tôi mong muốn kịp thời ghi nhận và tôn vinh những sản phẩm chăn nuôi gia cầm (con giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, sản phẩm chế biến, mô hình điển hình…) của tập thể, doanh nghiệp, người chăn nuôi gia cầm trong cả nước. Đồng thời cũng qua đây, khẳng định chất lượng, thương hiệu sản phẩm và năng lực của ngành gia cầm Việt Nam, thúc đẩy phong trào lao động sáng tạo khoa học và kỹ thuật, không ngừng nghiên cứu, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần đẩy mạnh chất lượng ngành, tiến tới hội nhập quốc tế”- ông Sơn nói.
Kể từ tháng 5/2016, sau gần 6 tháng phát động, Hội đồng chấm giải Danh hiệu “Sản phẩm Vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam” đã làm việc tích cực, công tâm, minh bạch để chọn ra các sản phẩm đạt tiêu chí của Ban tổ chức. Hội đồng giám khảo gồm 17 chuyên gia đầu ngành thuộc các lĩnh vực: giống, thuốc thú y, thiết bị và thức ăn chăn nuôi... tham gia bình chọn các sản phẩm.

Theo ông Sơn, những sản phẩm đạt giải lần này đã đạt tiêu chí chất lượng cao, đạt nhiều chứng nhận chất lượng và các giải thưởng uy tín, có chỗ đứng trên thị trường, được người tiêu dùng đón nhận, doanh thu hàng năm đạt hàng chục tỷ đồng. “Danh hiệu Sản phẩm Vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam” đã ghi một dấu mốc đáng nhớ cho ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam năm qua, không chỉ kịp thời tôn vinh, khích lệ các điển hình chăn nuôi mà còn góp phần quảng bá, giới thiệu các sản phẩm uy tín như: Con giống được lai tạo có kế thừa – phát triển các giống gia cầm truyền thống; sản phẩm thức ăn nói không với chất cấm trong chăn nuôi; sản phẩm chế biến đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm; các loại thuốc giúp đàn gia cầm kháng bệnh, phát triển khỏe mạnh đồng thời không gây hại môi trường; dây chuyền máy móc, thiết bị hiện đại áp dụng công nghệ cao nhằm chuyên môn hóa, tăng năng suất chăn nuôi. Đồng thời, danh hiệu này cũng tạo đà cho phong trào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ chăn nuôi gia cầm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm gia cầm Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế”, ông Sơn nói.

 
ĐTK tổng hợp
Ðọc thêm..